Sign up

This page looks plain and unstyled because you're using a non-standard compliant browser. To see it in its best form, please upgrade to a browser that supports web standards. It's free and painless.

TRANG CHíNH | ALBUMS | ADMIN | MOBILE
Tự giới thiệu

My photo
TRẦN HỒNG ÁNH

Nơi ở: Hải Phòng
Email: tranhonganh@gmail.com

tìm kiếm
lịch
« February 2012 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29      
các chủ đề gần đây nhất
Ra mắt tập thơ mới
Vẻ đẹp và quyền năng của thơ ca
Xuân mới, hứa hẹn nhiều thắng lợi mới
Danh sách hội viên mới kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam
Lửa hoang
Nhà thờ lớn Hải Phòng
Tập thơ "Hương nhãn" - nặng lòng cố hương
Trả đất - thơ và nỗi niềm trăn trở của người lính
Chuyến hàng mưa
Thơ của một cô giáo trẻ
Blogger nào tới Bến tàu không số?
Phía sau khe cửa
Gặp gỡ blogger Nguyễn Đình Xuân
Thành phố vào thu
Lát cắt Hải Phòng
Điều trái ngược
Đợi mưa
Thăm thẳm bình yên
Chiều ngoại thành
Một chiều mùa hè… Bloggers Đất Cảng
Năm bông tuy-líp
Đôi bạn
Kịch độc
Những bông phượng đỏ trên bến Nhà Rồng
Giao lưu bloggers "Nối vòng tay nhân ái"
các góp ý gần đây nhất
nguyenthiphung: Thích đọc thơ viết về tuổi thiếu niên của Hoài Khánh...
NGUYỄN ĐỨC THIỆN: Cám ơn Trần Hồng Ánh, chúc mừng Hoài khánh với...
vukimlien:      Em có chung những nhận xét về thơ Hoài...
Trần Hồng Ánh: Hi hi... Suy tư là việc của giời...
Trần Hồng Ánh: Em đang đọc bác ạ.
Trần Hồng Ánh: Mong GPN luôn là người bạn thân thiết của anh em bloggers Hải...
Trần Hồng Ánh: Cảm ơn chị có lời chúc mừng!
Trần Hồng Ánh: Chúc anh thêm nhiều bài thơ hay!
Trần Hồng Ánh: Anh Hoài Khánh rất có duyên khi ssasg tác thơ cho trẻ em.
Trần Hồng Ánh: "Dắt biển lên trời" là tập thơ thứ tư của nhà thơ...
Hoài Khánh: Suy tư đến thế là cùng...
Hoài Khánh: Đọc xong tập thơ này thì cho HK xin ý kiến nhé!
giophuongnam: Viết cho thiếu nhi rất khó, chỉ với tấm lòng yêu mến trẻ...
Lê Khánh Mai: Chúc mừng tập thơ mới của nhà thơ Hoài Khánh
Hoài Khánh: Cảm ơn Trần Hồng Ánh đã giới thiệu tập thơ!
myduyson55: Mình đã đọc nhiều bài thơ cho thiếu nhi của Hoài...
Lê Trường Hưởng: Cảm ơn anh Trần Hồng Ánh đã giới thiệu! Chúc mừng nhà...
Trần Hồng Ánh: Qua Nhà thơ Hoài Khánh kể ,Em được biết Bác là một...
Nguyễn Đức Đát: Hoài Khánh là một trong những nhà thơ kiên trì...
Trần Hồng Ánh: Cảm ơn nhà thơ Tây Ninh đã có lời chúc mừng. Nhớ...
tranhoangvy: chúc mừng tập thơ mới của Hoài Khánh.
Trần Hồng Ánh: Ảnh này phải nói là đẹp nhất và ưng ý nhất từ...
Trần Hồng Ánh: Cám ơn sự nhiệt tình cộng tác của Em và Hội Phụ nữ...
Trần Hồng Ánh: Chúc mừng  Nhà thơ Mai Văn Phấn vừa nhận giải thưởng Hội...
Hoài Khánh: Nhà thơ Mai Văn Phấn vừa nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam...
linhduyên: Em sẽ gửi chuẩn bị cho anh 10 ảnh cỡ đó như anh yêu cầu. Sang...
HOA DÃ QUỲ: Gửi chú cái ảnh!  
maihuehong: ùi, anh Hồng Ánh làm nhiếp ảnh à. Cảm ơn anh đã...
Trần Hồng Ánh: Chúc mừng "Giấy Chứng nhận KOSOVO" của Anh Hoài Khánh nhé!
Trần Hồng Ánh: Em chuẩn bị 10 Ảnh cỡ 20 * 30  về các hoạt động và báo...
xuất bản tin
RSS 0.90
RSS 1.0
RSS 2.0
Atom 0.3
lưu trữ
February 2012
January 2012
December 2011
November 2011
October 2011
September 2011
August 2011
July 2011
June 2011
May 2011
categories
Chung [27]
liên kết cá nhân
Chung
Trần Phượng Đình
Đinh Thường
Lâm Hải Phong
Muối Biển
Thy Nguyên
Sơn Hạ
Nguyễn Quốc Hùng
Tuấn Anh
Bùi Quý Thực
Vũ Văn Lương
Hoài Khánh
Nguyễn Thái Thanh
Bùi Thị Thu Hằng
Trạng thái của blog
Tổng số bài viết: 27
Tổng số góp ý: 1976
Tổng số trackbacks: 0
Tổng số lượt xem bài: 7.756

Powered by Vnweblogs

Ra mắt tập thơ mới

anhhp 21 February, 2012 13:37 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (19) Bản inBản in

Ra mắt tập thơ "Dắt biển lên trời" của Hoài Khánh

http://dantri4.vcmedia.vn/WF7a6LT8JiJdVF1l6FZ/File/2011/ngaythonamnay3_6a24f.jpgTập thơ "Dắt biển lên trời" của Hoài Khánh vừa được Nhà xuất bản Kim Đồng cho ra mắt bạn đọc vào đúng dịp Ngày Thơ Việt Nam lần thứ X. Là một nhà thơ của đất Cảng Hải Phòng, Hoài Khánh đã từng đoạt khá nhiều giải thưởng sáng tác thơ cho thiếu nhi. Với lòng yêu trẻ thơ, sáng tác của anh trong trẻo, hồn nhiên và gần gũi với các em nhỏ. Với tập thơ mới này, chỉ có 20 bài thơ mới sáng tác trong vòng 7 năm qua, Hải Phòng, biển trời, thiên nhiên, đảo, cát và sông núi hiển hiện thật dễ thương. Ở nơi đó, người đọc sẽ biết Hoa xuyến chi, Đường ở đảo... Nghe một điều giả dụ: Nếu Hải Phòng chỉ toàn người lớn... để hiểu được niềm vui Thả diều ở phố, Xuân trên đảo Bạch Long Vĩ, biết điều Bí mật...Núi cùng em đi học... Tập thơ khổ 12x20 cm, gồm 44 trang, ruột in 4 màu, trông khá đẹp mắt.

http://hoaikhanh.vnweblogs.com/gallery/2810/HK261211.pngGắn bó với thơ ca và tâm huyết viết cho tuổi thơ, trên bìa 4 của tập thơ này, nhà thơ Hoài Khánh đã trải lòng mình với độc giả: “Tôi yêu thơ và tập làm thơ từ khi còn quàng khăn đỏ. Hồi đang học khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm, tôi thử sức viết báo, làm thơ, nhưng chỉ thành công ít nhiều khi viết cho trẻ em. Về công tác ở Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, tôi có điều kiện gắn bó với phong trào thiếu nhi thành phố. Từ đó, tôi yêu thích sáng tác thơ cho tuổi nhỏ… Trẻ em hôm nay thích nhiều thứ hơn thích thơ. Bổn phận người làm thơ cho thiếu nhi không chỉ viết theo sở thích của con trẻ, mà còn phải giúp cho các em yêu cuộc đời hơn qua thơ và biết thưởng thức thơ. Điều này thật khó."

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc gần xa.

TRẦN HỒNG ÁNH

Vẻ đẹp và quyền năng của thơ ca

anhhp 03 February, 2012 08:23 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (92) Bản inBản in

Vẻ đẹp và quyền năng của thơ ca

(Tham luận tại Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương lần thứ I tại Quảng Ninh và Hà Nội, 2/2012)

http://tongocthach.vn/tnthach_admin/news_images/images/News/maiVanPhan%5B1%5D.jpgDù được viết theo bất kỳ khuynh hướng nào, thơ ca luôn mang vẻ đẹp nguyên khởi, nhằm phục sinh, tái tạo thế giới, mãi đối lập với cái xấu và gian tà. Thơ ca là ánh sáng đẩy lùi bóng tối, là nước mát làm xanh tươi mặt đất, là vị thuốc chữa lành những vết thương tâm hồn, đánh thức thiên lương con người để họ không rơi vào vũng lầy tha hóa, sống nhân hậu thân thiện hơn.

Lịch sử, tâm lý, tập tục truyền thống… của mỗi dân tộc đã tạo nên những mật mã trong ngôn ngữ, vừa hiển ngôn vừa bí ẩn sau những tín hiệu vần điệu, tục ngữ, dân ca, và… Thơ. Tất cả đã cháy lên, như ngọn lửa bất diệt soi chiếu tầm vóc, cốt cách dân tộc. Nó đã trở thành tài sản tinh thần của dân tộc Việt qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Đồng hành với lịch sử, những bài thơ hay, câu thơ hay treo lên lý tưởng đẹp đẽ của độc lập dân tộc và giá trị nhân văn cao cả, tạo nên nội lực, sức mạnh phi thường để chúng ta từng giành lại đất nước.

Qua mỗi giai đoạn lịch sử, những cuộc giao lưu giữa các nền văn hóa đã làm thay đổi, phong phú thêm những quan niệm thơ ca. Quan niệm mỗi nền thi ca chỉ có giá trị trong ngôn ngữ mẹ đẻ là phiến diện và nghèo nàn, không thể tồn tại  lâu khi những cuộc giao thương, di dân, hội nhập trong lịch sử đã mang đến cho thơ những quan niệm mới. Nó như luồng gió mạnh bên ngoài ùa vào làm thay đổi, phồn sinh những quan niệm có sẵn. Phong trào Thơ mới (1930 - 1945)  là ví dụ điển hình - kết quả của quá trình giao lưu văn hóa Đông–Tây hồi đầu thế kỷ XX.

Chúng ta đang sống trong một thế giới còn nhiều cách biệt giữa các dân tộc, giữa con người với nhau còn xa lạ, đôi khi là hố thẳm..., thơ ca là cầu nối, là bàn tay chân thành, giọng nói ấm áp để chúng ta tìm đến với nhau, cảm thông, thấu hiểu nhau hơn. Nhờ có thơ ca, chúng ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp linh diệu, bí ẩn... cũng như thấy được sức mạnh tinh thần hiển linh và tiềm ẩn của dân tộc ấy. Chúng ta tựa vào thơ ca để ngày thêm hoàn thiện, thay đổi, được lớn lên và bình đẳng giữa các dân tộc trên trái đất.

Thơ ca với muôn vàn những quan niệm khác nhau và dị biệt, luôn được cải biến hoàn thiện, phong phú cùng với thời gian tựa như cây lớn trong trời rộng chiết thêm nhiều cành nhánh. Mỗi cá thể sáng tạo đều chọn cho mình con đường riêng biệt, nhưng mọi nhà thơ đều chung một đích đến là khám phá và tôn vinh cái Đẹp. Nhà thơ thường đơn độc khi sáng tạo với cái tôi riêng biệt, duy nhất của mình;  nhưng trong sự riêng tư, tưởng như đơn độc ấy, anh ta đã gặp nhân loại, gặp cội nguồn những khát vọng, chạm mặt mơ ước của loài người về một thế giới hòa bình, không kỳ thị sắc tộc, tôn giáo, vượt lên sự khắc nghiệt của chiến tranh, thiên tai, bạo loạn… Đó là thế giới của những giá trị nhân văn. Do vậy, tầm vóc của thi sỹ nhiều khi không nằm ở vấn đề mà anh ta đặt ra, mà ở cách tiếp cận, cách dồn nén cảm xúc đến tột đỉnh cho một vấn đề tưởng chừng đơn giản, nhưng hiệu quả của nó thật lớn lao và bất ngờ. Ánh sáng của nó soi rọi cho bạn đọc nhìn thấy những mối quan tâm lớn của thời đại, tính cập nhật của đời sống. Thơ ca bất ngờ cất lên tiếng nói chân thành. Và, chân thành luôn là nghệ thuật hàng đầu của thơ ca. 

Chúng ta nhận ra thơ ca đích thực, dù được chú trọng hay thờ ơ, được tôn vinh hay bị lợi dụng vẫn luôn tỏa sáng.

Cần lưu ý là mọi thái độ, cung bậc tình cảm của con người nhiều khi là cái cớ chứ không phải mục đích của thi ca. Thơ ca vốn tạo ra thế giới riêng biệt mà chỉ nhà thơ mới có. Tất cả hiện tượng đời sống, mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên là “chất liệu” để nhà thơ đặt vào trong không gian riêng biệt và kỳ ảo của mình. Thơ ca thường không áp đặt mà mở cánh cửa để bạn đọc đi vào thế giới của nhà thơ, đúng hơn là nhà thơ dẫn dắt, khêu gợi để bạn đọc tự mở cửa tâm hồn mình, để họ thấy được những kỳ diệu và bất ngờ, giống như ai đó tự tìm được kho báu ngay chính trong ngồi nhà của mình.

Kiếm tìm chỗ đứng cho thi ca Việt trong khu vực và thế giới ngày nay là cơ hội và thách thức to lớn đối với các nhà thơ Việt Nam đương đại. Chúng ta sẽ tụt hậu, và, bị quên lãng nếu cứ giữ mãi những quan niệm cũ. Nhất định là cần thiết tiếp xúc với con đường nghệ thuật và tư tưởng mà thi ca thế giới đã đi để sáng tạo những giá trị mới và riêng biệt. Chúng ta cần xác định chính xác và chân thực thơ Việt đang ở đâu và cần phải làm gì. Tôi luôn khao khát và tin tưởng thơ chúng ta sẽ tạo được khuynh hướng hiện đại cách tân mang đậm bản sắc Việt. Nếu vẻ đẹp của thơ là đóa hoa thấm đẫm nhân văn thì quyền năng của thơ chính là sự tái tạo khả năng cảm xúc và suy tưởng, làm xuất hiện những giá trị tinh thần mới, một thế giới mới.

 

 MAI VĂN PHẤN

 Bản dịch sang tiếng Anh của Trần Nghi Hoàng

The beauty and power of poetry

(Presentation at the poetry festival in Asia-Pacific, the First in Quang Ninh and Hanoi, 2/2012)

Whether be written with any  trend, poetry is always carrying the beauty of primordial, to the resurrection, recreate the world, forever opposed to the bad and evil. Poetry is the light push back the darkness, the cool water to make the earth  verdant, is an effective remedy healing soul wounds, awaken the good conscience of the humankind to make them couldn't fall into the marsh of depravity, to live the more goodness-friendly living.

History, psychology, traditional practices of each nation... has created the codes in their language, it's both explicit and also enigmatic behind the signals of rhymes, proverbs, folk songs, and... Poetry. All burned up, as the eternal flame illumined the stature, characteristic of the nation. It has become the spiritual property of the Vietnamese people over thousands of years of building and defending the country.  Together with history, the excellent poems, the nice verses hanging up the beautiful ideal of national independence and the lofty values of human culture, creating internal resources and extraordinary power to  reclaim our country, in the past.

Through each historical period, the exchanges between cultures has  make changed, more enriched for the conception of poetry. Conception poetry of each nation is valid only in native language is unilateral and poverty, can not survive for long run when the trades-in, migration and integration in  history brought to poetry the new conceptions . It's as strong winds from outside rushing in making changes, prosperousness the traditional living concepts available. New Poetry Movement (1930 - 1945) is a typical example - the result of cross-cultural East-West in the early twentieth century.

We live in a world still much gap between nations, between people unfamiliar with each other, sometimes a very deep pit..., poetry as a bridge, a hand sincere, warmly voice for us to come together, empathetic, understanding each other better. Thanks to poetry, we been admire the miraculous beauty, mystery... as well as seeing mental strength epiphany and potential of  that nation. We are leaning on poetry to improving every day, changing, growing up and equality among nations on earth.

Poetry with a myriad of different concepts and differences, always modified to be perfect, rich together with time like a large tree in wide sky grafting more branches. Each creative individual will choose for him the separate path, but all poets have the same destination is to exploring and honouring the Beauty. Poets often lonely in creating with separate ego, his only, but in the privacy, seemed like lonely, he met with humanity, he been seeing the source of aspiration, face to face the dream of mankind of a peaceful world, without discrimination of race, religion, beyond the rigors of war, natural disaster, riot… It's the world of the human cultures values​​. Therefore, the stature of poet mostly is not in the problems that he set out, but in the way to he approaching, the way to pent-up emotions to the peak for a seemingly simple problem, but its performance was great and unexpected. The light illuminates for its readers to see the major concerns of the times and update of life. Unexpected poetry speak up the sincerely language. And, sincerity is always the leading art of poetry.

We recognize that the real poetry, although to be attach special importance to to or indifferent, to be glorified or taken advantage of always shines.

It should be noted that all attitude, tone of human emotions in much of times as an excuse, not the purpose of poetry. Poetry creates a separate world that only the poet has it. All phenomena of life, the relationship between man to man, man with nature is "material" so the poet put into separate space and his miraculous. Poetry does not impose that often opens the door for readers into the world of the poet, exactly rather  than, the poet guiding, suggestion for the reader open the door of his soul himself, that they may see the wonders and unexpected, like someone found the  treasure just right in his  own home.

Searching position for a Vietnamese poetry in the region and the world today is an opportunity and challenge for the contemporary poet Vietnam. We will be left behind, and, forgotten if you still holding the old concepts. Absolutely necessary to contact with the way of art and idea that the poetry of the world has go on to create new values and separate. We need to determine accurate and authentic is where the Vietnamese poetry standing and what we need to do. I crave and believe we will create the poems are modern innovations tend bearing the deep characteristic of Vietnam. If the beauty of poetry is the beauty of a flower permeates the human culture, so the power of poetry is to replicate emotions and idea, bring out the values of the new spirit, a new world.

 MAI VAN PHAN

Xuân mới, hứa hẹn nhiều thắng lợi mới

anhhp 28 January, 2012 14:56 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (26) Bản inBản in

Xuân mới, hứa hẹn nhiều thắng lợi mới

http://hoaikhanh.vnweblogs.com/gallery/2810/Dem%20phao%20hoa%20copy.jpgCùng cả nước, Đảng bộ - chính quyền – quân và dân thành phố Hải Phòng hân hoan đón chào năm mới Nhâm Thìn – 2012 trong không khí thi đua đưa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố đi vào cuộc sống .

Năm 2011 vừa qua, toàn thành phố đã khắc phục mọi khó khăn, nỗ lực phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cho năm 2011, kinh tế thành phố tiếp tục ổn định và phát triển; tổ chức thành công cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 – 2016; kiện toàn bộ máy lãnh đạo HĐND và UBND các cấp. Chủ đề năm 2011 “Đô thị và đảm bảo an sinh xã hội” được quan tâm chỉ đạo, triển khai kịp thời, hiệu quả, tạo sự đồng thuận cao của xã hội và tạo động lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố theo hướng bền vững. Lĩnh vực Văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến, quan tâm đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân.

Mừng đất nước đổi mới và hội nhập, mừng Đảng quang vinh, mừng xuân Nhâm Thìn 2012, mỗi người dân thành phố Hải Phòng chúng ta hãy phát huy truyền thống và thành tựu, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố Hải Phòng, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Phấn đấu thực hiện có hiệu quả chủ đề năm 2012 – năm “Đô thị và an toàn giao thông” ổn định kinh tế vĩ mô, kiếm chế lạm phát, đổi mới và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Tất cả vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mừng xuân Nhâm Thìn 2012: vui tươi, lành mạnh, tiết kiệm, an toàn.

TRẦN HỒNG ÁNH

Danh sách hội viên mới kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam

anhhp 04 January, 2012 18:48 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (20) Bản inBản in

Danh sách hội viên mới kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam

Chiều nay, 04/1/2012, BCH Hội Nhà văn Việt Nam đã họp phiên cuối cùng thảo luận danh sách đề cử và tiến hành bỏ phiếu bầu chọn các tác giả để kết nạp vào Hội. Kết quả đã có 41 tác giả đủ điều kiện trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Lễ kết nạp hội viên mới sẽ được tổ chức vào ngày cuối tháng 1/2012 tại Hà Nội.

Blog Trần Hồng Ánh xin chúc mừng các hội viên mới. Sau đây là danh sách các hội viên mới (xếp theo thứ tự ABC):

Thơ:

Trần Thị Kim Anh (TP. Hồ Chí Minh)

Cát Du (Bình Dương)

Lê Kim Hạt (Vĩnh Phúc)

Trần Hoàng Thiên Kim (Công an nhân dân)

Hà Linh (Hà Nội)

Nguyễn Phan Quế Mai (TP Hồ Chí Minh)

Nguyễn Công Nam (Hải Phòng)

Trương Trung Phát (Hà Nội)

Nguyễn Đình Phúc (Phú Thọ)

Trần Huy Tản (Hà Nội)

Phan Trung Thành (TP Hồ Chí Minh)

Mai Thìn (Bình Định)

Hoàng Quang Thuận (TP Hồ Chí Minh)

Đinh Thị Như Thúy (Đắc Lắc)

Nguyễn Ngọc Tung (Vĩnh Phúc)

Ánh Tuyết (Thái Bình)

Trần Đình Việt (Hà Nội)

Đặng Quang Vượng (Hà Giang)

Thanh Yến (TP Hồ Chí Minh)

Văn xuôi:

Viên Lan Anh (Thanh Hóa)

Lê Văn Ba (Hà Nội)

Đào Ngọc Du (Hà Nội)

Ái Duy (Khánh Hòa)

Trương Thị Thanh Hiền (An Giang)

Nguyễn Quốc Hùng (Hải Phòng)

Nguyễn Đình Lễ (Hà Nội)

Đoàn Lư (Cao Bằng)

Nguyễn Đắc Như (Hà Nội)

Trương Anh Quốc (TP. Hồ Chí Minh)

Thiên Sơn (Hà Nội)

Nguyễn Xuân Thủy (Quân đội nhân dân)

Trần Nhã Thụy (TP Hồ Chí Minh)

Lê Toán (Quảng Ninh)

Đoàn Hoài Trung (Quân đội nhân dân)

Lý luận phê bình:

Giáp Văn Chung (Hungari)

Nguyễn Thị Kim Hiền (Nga)

Lê Thị Bích Hồng (Hà Nội)

Phạm Phú Phong (Huế)

Hà Quảng (Hà Tĩnh)

Việt Trung (Thái Nguyên)

Dịch:

Lê Thị Phong Tuyết (Hà Nội)

Lửa hoang

anhhp 04 January, 2012 18:48 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (7) Bản inBản in

Lửa hoang

Hường nhón gót giày cảnh vẻ bước qua những vũng nước đọng trên nền ngõ lổn nhổn vôi thầu gạch vỡ. Sau cơn mưa, đất lầm lên nhầy nhợt khiến người qua lại đI như làm xiếc trên dây, khuôn mặt vốn dĩ đã khó đăm đăm càng trở nên nhăn nhó đến tức cười. “ ông này mặt bủng da dày, chắc mắc bệnh về gan. Rượu cho lắm vào đây mà -  quái, con bé kia sao nước da xanh lợt, mặt dại thế kia, thôi thôi, giống này không nạo thai vài lần thì cũng đẻ non!”. Vừa đi, Hường vừa tinh quái chẩn bệnh cho những người đI ngược chiều từ trong ngõ ra bằng cáI vốn kiến thức đông y học lỏm của bà cô họ người dân tộc.

-  Bác làm ơn cho hỏi hôm nay anh SoáI có đến đây không ạ?

-  SoáI nào nhỉ, SoáI trọc phảI không – bà hàng nước loay hoay bỏ chè vào chiếc ấm sành cáu vàng, không thèm ngẩng lên nhìn khách – mà đến lấy hàng à, dạo này nó ‘ dớt’ bỏ mẹ, xi măng gạch cát đến nơI rồi, lấy sức đâu mà bò đI chợ nữa.

-  Dạ, cháu là em họ anh ấy, nhà có việc phảI đI tìm về.

-  Sáng nay còn thấy lảng vảng ở đây mà… chẹp…chắc lại đI nhặt rác rồi. Cô cứ ngồi đây chờ, sắp đến cữ là con giời mò về ngay đấy.

Nhìn những chiếc chén lỏng khỏng mẻ miệng nằm trên khay, Hường rùng mình, cẩn thận lấy gói giấy ăn trong túi lau ghế rồi mới ghé người ngồi xuống;

-  Bác cho xin phong kẹo cao su, mà bác bảo anh cháu đI nhặt rác là nghĩa làm sao?

-  Là nhặt rác chứ răng với sao cáI gì? Nó dính AIDS rồi, người oặt ra như rau muống thiu thì còn làm ăn nỗi gì. Chúng nó bảo nhau ra đường tàu nhặt kim tiêm vứt đI của lũ khác về mua moocphin cho vào rửa lấy sáI rồi tiêm cho nhau. Nghe đâu gia đình nó cũng khá giả nhưng từ ngày biết nó dính AIDS ông bà ấy cầm cửa, ngày thí cho 20 nghìn cầm hơI khi nào chết báo cho ông bà ấy biết để đem xác đI chôn chứ nhất định không cho về nhà nữa.

Hường nhăn mặt, lũ thịt ngựa, dê táI mới nuốt vào lúc trưa trong bụng ùng ục muốn trôI ra, cô gắt gỏng

-  Kẹo của cháu đâu, bác không thích bán hàng à?

Bà chủ quán liếc xéo, miệng dẩu ra lẩm bẩm “ Rõ cứt nát còn đòi có chóp. Ngữ này không diều tha cũng quạ mổ”. Phong kẹo bị ném xuống mặt bàn kêu đánh “cạch”. Hường không để ý, cô bóc kẹo cho vào miệng rồi xoay người nhìn ra.

-  Anh SoáI, anh Soái… Đây cơ mà, đằng này…

Cô nhổm lên vẫy tay rối rít gọi một người đàn ông cao nghều như cây gậy ngất ngưởng đI vào ngõ, người ấy lại gần, mặt bủng vàng, hai hố mắt trũng sâu, quần áo bốc mùi khăn khẳn

-  Hỏi ai? – cáI gậy cất giọng eo éo làm Hường rùng mình, cô nhìn ông anh họ đang nắm tay với Thần Chết chơI dung dăng dung dẻ trước mặt mình một lúc lâu rồi mới dọn giọng

-  Em, Hường con bố Châu đây, giời ạ, em đI tìm anh từ sáng đến giờ. Sao lại đến nông nỗi này hả anh?

-  Ăn thua mẹ gì mà mày rộn lên, có việc gì thì nói mau rồi biến, ở đây phức tạp lắm. – SoáI hạ giọng – Có tiền cho tao vàI tê đI, dạo này móm quá. Ông bà già tao từ tao rồi, hì hì, vậy mà tự nhiên mày lại đI tìm tao. Trừ giết người ra còn việc gì tao cũng cân tất

Hường đứng lên trả tiền kẹo, hất hàm bảo Soái

-  Đi ăn đã rồi nói sau. Anh trông ghê quá, chả ra hồn người…..

-  Người gì cáI thứ tao, mà nói gì thì nói ở đây đI, ăn uống tao đếch thiết.

-  ThôI dược, em muốn nhờ anh tìm giúp một người.

-  Đặc điểm nhận dạng. Thằng ấy nó tớm của mầy cáI gì à?

Rút từ ví ra một tờ giấy gấp làm tư, bên trong kẹp sẵn 200 ngàn, Hường ghé sát Soái.

-  Có tý quà biếu anh. Còn trong đây em đã ghi rõ yêu cầu về đối tượng. Anh tìm được thì báo ngay cho em, sẽ có thưởng lớn!

-  Ê, tao là thằng nghiện thật nhưng không bán đứng anh em đâu mày. Định kều tao làm ly thì tao chịu đấy.

-  Không, em tìm chồng. Tìm người để lấy làm chồng hẳn hoi… dù nghiện thì cũng phảI có trình độ, có hình thức và con nhà. Anh nhớ đấy, em anh lấy được chồng thì công của anh to lắm

-  Con này, mày điên phỏng? – SoáI chưng hửng – cáI của hiếm ấy thì kiếm đâu ra, à, có rồi! Thằng Giang, thạc sỹ hàng hảI hẳn hoi. Mà…, mày có ổn định không đấy hả em?

Hường khẽ liếc bà hàng nước, ngón tay trỏ huơ huơ trước trán

-  ừ em điên, nhưng con điên này sẽ chỉ điên khi cần thôi. Thống nhất thế nhé, em về đây. Nhớ giúp em đấy nhé.

SoáI ngẩn người nhìn theo bóng đứa em họ dần khuất sau con ngõ ngoắt ngéo, miệng lẩm bẩm

-  Con này sướng quá hóa rồ chắc, tự nhiên lại kiếm nghiện làm chồng. Đàn ông thời này chết hết rồi hay sao mà dến lượt nghiện được giá thế nhỉ?

*

Căn nhà cổ xây kiểu Pháp nằm im lìm nơI góc đường vắng chợt rồ lên bởi tiếng xe máy rú ga hết tốc lực đâm thẳng vào sân. Hường kiểu cách gạt chân chống rồi bước vào nhà. Đặt chiếc túi cườm lên mặt bàn, với cốc nước tu một hơi

-  Vừa lòng ông bà già rồi đấy. TôI đã tìm được người yêu, có gì sang tháng cưới luôn.

Ông Châu ngửng lên, khịt khịt mũi sửa lại gọng kính tiếp tục cúi xuống bình thản đọc báo. Bà Châu hết nhìn con lại nhìn chồng, lập bập hỏi;

-  Mày lại định bày trò gì nữa đây hả con. Cứ yên hàn như bây giờ thì nhà này cũng đã chịu đủ miệng tiếng thiên hạ rồi. Đừng bôI gio chát trấu vào mặt bố mẹ nữa. Kìa ông, ông nói gì đI chứ…

-  Đấy là việc của nó. Nó đI cho khuất mắt thì cũng chả chết ai, việc gì phảI rối lên. - Ông Châu vẫn không rời mắt khỏi tờ báo

-  Ô nói hay thật, con ông mà ông rửng rưng như nước lã ấy. Nó là con riêng tôI chắc.

-  Đấy là việc của bà, con hư tại mẹ!

Bà Châu kiên nhẫn:

-  Thì ông cũng phảI hỏi xem con nó lấy ai để mình còn định liệu chứ?

-  Lấy ai là việc của thằng ấy. Chúng nó đủ lông đủ cánh cả rồi. Khi nào cưới thì bảo trước tao một tuần để tao mời khách. - Quay sang bà Châu, ông lên giọng – Chiều tôi lên sở, bà xem là hộ tôi cái áo.

Hường búng tay đứng dậy:

-  Coi như tôI đã thông báo sơ bộ tình hình, khi nào tôI dẫn “kép” về sẽ thông báo chi tiết sau. Mà tôI đã cưới là làm đoàng hoàng đấy, ông già định làm ở đâu thì cho ý kiến nhé.

Nói dứt câu, Hường nhìn thẳng vào mắt bố chờ xem phản ứng của ông. MãI chẳng thấy bố nói gì, cô nhún vai bất cần đứng dậy ra sân quay xe phóng luôn. Bà Châu vội chạy ra khép cổng rồi lủi thủi đI vào nhà trong nét mặt rầu rầu như đưa đám, tai còn nghe tiếng chồng lẩm bẩm:

-  Vô phúc. Con với chả cái…

*

Căn hộ chung cư được trang trí khá cầu kì bằng nhiều đồ nội thất đắt tiền. Chiếc giường ngủ rộng mênh mông kê đối diện một tấm gương lớn. Hường nằm dàI trên giường, cười khanh khách:

Còn lần mần gì đấy hả anh già, “ đI ủng” hả? Không cần đâu, em dùng thuốc rồi mà.

Người đàn ông chồm lên người cô, khuôn mặt viên mãn, hồng hào

Em là con quỉ cái. Đã thế cho chết luôn.

Ai chết thì còn bàn sau, giờ thì phảI cho thằng nhỏ của anh chết trước đã, nhỉ?- cô nheo mắt cười rồi vít cổ bạn tình xuống, gấp gáp thở.

Nửa tiêng sau, Hường đánh thức ông Hùng, kề vào miệng ông chén nước nhỏ xíu, có màu nâu nhạt. Ông ta nhăn mặt:

CáI gì mà lần nào em cũng bắt anh uống thế?

Thì cứ uống đI, chết được đâu mà sợ. NgoàI em ra chẳng ai có thứ này mà cho anh uống. Thần dược đấy, có khi còn công hiệu gấp trăm lần mấy thứ tráng dương bổ khí của anh ấy chứ.

Nhưng là cáI quáI quỷ gì mới được chứ. Đầu anh hai thứ tóc rồi đấy cưng ơI chứ có phảI bọn trẻ ranh để em chơI trò thả đỉa ba ba đâu.

Có gì bí mật đâu, sâm đấy mà. Chỉ có điều bà cô em đã phảI cho tiền bọn gáI trinh trên mạn ngược để ngâm những củ sâm to cỡ ngón tay cáI vào chỗ kín của bọn chúng đủ bẩy ngày bảy đêm để hút âm khí rồi đem phơI khô. Mỗi lần dùng tháI vàI lát ngậm hoặc giã nhuyễn với nước. Đàn ông sau mỗi lần trăng hoa dùng một chút là vượng khí lại ngay.

Ông Hùng bất giác rùng mình, một cảm giác lạnh buốt chạy dọc sống lưng khiến ông ngồi nhỏm dậy. Mặt chợt đỏ chợt tái:

Ai dạy em cáI trò này vậy? Không cẩn thận chết người như chơI.

Ơ hay chưa kìa. – Hường dàI giọng – Mấy năm nay ngày nào anh cũng uống mà có thấy anh chết tý nào đâu. Họa chăng là có em đến chết khiếp vì anh thì có.

Nói dứt câu, Hường bám vai người đàn ông kéo nằm ngửa xuống giường. Họ lại quấn lấy nhau như đôI trăn làm đệm trở mình kêu cót két.

*

Chưa đầy năm ngày sau, SoáI đã điện cho Hường lúc cô đang cùng ông Hùng đI công tác miền Trung. Nói là đI công tác cho oai chứ mấy cáI hợp đồng nhỏ với các công ty ở trong này, ông Hùng đã thỏa thuận xong đâu đấy rồi, chuyến đI này là đối tác mời vào xả hơI nhân thể lại quả cho đôI bên sòng phẳng. SoáI nói phều phào không ra hơI qua điện thoại:

Anh tìm được rồi, tên nó là Giang, thạc sỹ hẳn hoi nhé, đã từng là giảng viên đại học. Chả hiểu chơI bời thế nào bị phát hiện, trường kỉ luật đuổi việc luôn.

Gia đình anh ta thế nào? – Hường hỏi

Cũng tương đối lắm, anh tìm cho cô một cửa khá đấy chứ chả vừa. Nhà ấy mở công ty vận tảI tư nhân, thằng Giang lại là con một nên họ chiều lắm. Được cáI thằng này có học nên nó chơI bời cẩn thận lắm. Yên tâm là chưa dính AIDS

Vậy anh đã nói với hắn về việc của em chưa?

Cũng mới chỉ nói qua thôi. Nó bảo nó tàn đời rồi thì vướng vào mấy cáI chuyện ấy làm gì. Anh đành nói dối rằng cô ngưỡng mộ nó từ lâu nên muốn được chăm sóc nó, giúp nó làm lại cuộc đời. Nó bảo để nó nghĩ thêm. Mà anh đã hẹn nó chiều nay gặp nhau tại Nhà Hàng 55 rồi đấy. Cô thu xếp thời gian đến mà gặp mặt bàn cụ thể.

Khỏi gặp! Em đang ở Cửa Lò, mà mình anh nói chuyện sẽ dễ hơn, chỉ cần hắn đồng ý lấy em còn những việc khác em lo tất. Anh cứ nói lại với Giang thế… Em chỉ cần một đứa con, chắc hắn cũng không ngu đến nỗi để dòng họ nhà mình tuyệt tự. Nừu đồng ý thì về ra mắt hai bên gia đình rồi cưới luôn. Chiều anh chịu khó qua nhà em, em gửi bà già cho anh ít tiền đấy.

Hường bỏ máy vào phòng, cô nhìn ông Hùng đang xếp những cọc tiền mới cứng vào vali một lúc lâu rồi mới thong thả ngồi xuống giường, đối mặt với ông Hùng:

Anh bỏ đấy đã, em có chuyện muốn nói.

Yên nào anh đang kiểm tiền. Vụ này bọn nó lại quả khá ra phết.

Hường lạnh lùng:

Tháng sau em lấy chồng. Anh già mừng em cáI gì nào?

Ông Hùng đứng bật dậy, mắt trợn hỏa:

Điên à, tôI giết. Đang yên lành lại dốc chứng…

Giết được không? – Hường chỡn trợ – thì cũng phảI để em đI lấy chồng chứ, chẳng lẽ chết già làm ma không chồng sao? Vả lại chị nhà ghen quá, em hãi… Nghĩ chán ra rồi, lấy chồng thì hàng xóm đỡ xì xèo mà nội tướng nhà anh cũng yên chí ngồi nhà đếm tiền. Bà ấy lúc nào cũng rình em như cú dòm nhà bệnh ấy…

Tuỳ, chán thằng già này thì thôi, đợt này cơ quan đang có đợt tinh giảm biên chế. Nhiều khả năng ông già em bị xét đợt này.

Ông Hùng buông một câu lạnh tanh đầy thách thức. Hường đang cười cười

chợt đanh mặt lại. cô chồm dậy đứng trên giường làm tấm nệm lún sâu.

Này, cấm động vào ông ấy. Ông ấy dâng tôi cho anh là nhằm vào cái ghế của anh khi anh lên Tổng. Giờ có cái chức Trưởng phòng hành chính quèn mà anh còn định hất thì liệu hồn với tôi.

Sao bảo em hận ông ấy?.

Hận gì? Có hận là hận đồng tiền nó bạc, nó phản bạn lừa thầy, nó thay đen đổi trắng… Chả gì ông ấy cũng là bố tôi, hận thì hận chứ nhất định không dương mắt nhìn ông ấy ngã ngựa. Hiểu chưa?

Hiểu rồi, hiểu rồi. Đừng xù lông lên nữa. - Ông Hùng kéo hường sát lại gần mình, vỗ về – Thằng này còn thì ông già vẫn muôn năm. Miễn là em không chê anh gân chùng gối mỏi là OK.

Chê là chê thế nào, chùng có cái hay của chùng, mỏi có thú của mỏi. Em còn ngấu anh lắm. Có điều phải tính kế lâu dài, em đã 32 tuổi, chẳng mấy mà già. Phải kiếm mụn con để còn có chỗ nương tựa.

Ông Hùng châm thuốc, mùi khói khét lẹt bay đầy phòng. Hường chăm chú dò theo nét mặt ông dãn ra rồi cau lại:

- Muốn có con thì có với tôi đây này, việc gì phải cần đến thằng khỉ nào.

- Chửa với anh hoạ có mà chửa bóng. Thử đi khám xem có còn con bống nào không. Rượu như hũ nút, gái mú tá lả… chả mấy mà hỏng. Em thả nửa năm nay rồi mà có đậu đâu. Em tính rồi, thằng chồng sắp cưới của em có bằng thạc sỹ hẳn hoi, kẻng giai, con nhà khá giả…hừ… phải mỗi tội nghiện lõ. Phí của giời!

- Giời đất ơi! Em có điên không? - ông Hùng rít lên qua kẽ răng - Cẩn thận lại mướp đắng gặp mạt cưa, nó dây Siđa cho thì tàn đời. Lúc ấy đừng réo thằng già này.

- Khéo lo! Theo anh mười mấy năm nay chả lẽ không học được tý nào. Hắn là con nhà giàu, bản thân có học. Em bẫy hắn vào vở “Thuyền quyên luỵ khách anh hùng. Vì yêu nên quyết giúp chồng đi cai”. Ha.. ha… chỉ cần hắn chịu cai một tháng để em có giống tốt thôi chứ em còn lạ gì bọn ấy, hoạ có ximăng, cát, đá mới cai nổi chứ Trời cũng chịu…Huống chi em không phải là trời. Em chỉ thay Trời cái việc tìm chồng thôi, lấy chồng có hôn thú đoàng hoàng, con em có bố, có khai sinh hẳn hoi. Sau này thừa kế gia sản nhà chồng thì có mà tiêu nhọc. Không những thế, chị nhà thấy em xuất giá cũng yên tâm thả cho anh đi làm ăn, tha hồ mà tung tẩy nhé!

Ông Hùng kéo Hường nằm sấp trên người mình, cười sằng sặc:

- Ma quỉ, ma quỉ…Em đúng là ma quỉ….

*

Đám cưới diễn ra đình đám làm nức lòng hai họ. Nhà gái mừng vì đứa con

gái trở tính đã chịu yên bề gia thất. Nhà trai vui vì con trai cưới được vợ đẹp, lại đảm đang. Biết đâu nó dần nghe lời vợ mà tu tỉnh. Dâu rể được bố mẹ cho ở riêng tại một ngôi nhà ba tầng ngay khu đô thị mới.

Đúng lời Hường trù tính, sau ba tháng lấy vợ, Giang lần về đường cũ, đêm mò vào giường nằm còng queo chả đoái hoài gì đến vợ. Hường cũng chả cần vì đã có ông Hùng lâu lâu lại mò tới. Nhiều lúc Giang ngạc nhiên vì vợ dạo này ngay đơ chả thấy say chồng như hồi mới cưới song ham hố của y cũng biến sạch nên đành tặc lưỡi nhìn vợ ngủ.

Một hôm ông Hùng vừa tới cửa thì Hường đã chặn lại:

Anh vào nhà gom hộ em ít đò rồi mang về chung cư cho em. Em sang nhà chồng một lát rồi sẽ tới đó luôn.

Ông giật ngược khuỷu tay cô, đanh giọng:

Vừa vừa thôi, khôn ngoan lắm lại oan trái nhiều. Tiền của anh đủ cho em tiêu suôt đời, đừng chơi sát ván quá người ta oán.

Hường khẽ khàng gỡ tay ông:

Em có thai rồi, gần hai tháng. Không đi thì ở lại làm gì. Giang nó có thiết em đâu. Tiền mừng đám cưới dốc sạch vào thuốc sái rồi. Không đi nhanh thì chả mấy mà mang bệnh.

Thật không em?. Vậy thì em dọn ngay đi. Nhưng anh vẫn phải nhắc, đừng quá đáng quá, có con rồi thì lo để đức cho con.

Để ông Hùng ở lại, Hường đi một lèo đến nhà chồng. Khuôn mặt người đàn bà đương xuân hồng lên trong nắng. Cô thấy vui khi mục đích của mình đã thành. Chợt nghĩ tới màn kịch cuối cùng cần phải diễn cho trọn vở, khuôn mặt Hường vội nặng xuống, nước mắt ngắn dài làm bà Lan quýnh quáng chạy ra.

Lại làm sao thế, anh chị hành nhau chưa đủ hay sao mà còn tới đây làm khổ hai thân già này. Có đi vào nhà ngay không, xóm làng người ta cười cho bây giờ. Mà vợ chồng cãi nhau là chuyện thường, con cố nhìn thằng Giang một tý cho êm nhà ấm cửa. Chẹp…ai lại…

Con đến để xin lỗi bố mẹ, con đã phụ lòng bố mẹ. – Hường bật khóc nức nở – …Con không giữ được chồng con. Trời ơi ngó xuống mà coi, anh ấy ngiện lại gần hai tháng nay rồi. Con mang chìa khoá nhà và giấy tờ đến trả lại, mong bố mẹ nhận giúp. Con về bên ngoại.

Bà Lan hiểu ra vấn đề, lập tức đứng bật dậy, xỉa xói:

- Ơ đâu ra cái thứ mèo mả gà đồng như thế. Tôi cưới cô cho thằng Giang có lễ lạt hẳn hoi. Nói đi là đi thế nào?. Chả phải cô đã biết nó nghiện từ trước khi lấy nó là gì, lại còn leo lẻo cái mồm rằng con sẽ giúp anh ấy làm lại cuộc đời… Có thế tôi mới cho vợ chồng cô cái nhà ngót bạc tỷ ấy chứ. Định lật lỏng phỏng?

- Không, con nào dám có ý ấy. Nhưng mẹ cũng là phụ nữ, mong mẹ hiểu cho con. Con có thai hai tháng rồi, con không giữ cho con thì cũng phải giữ cho cháu sinh ra lành lặn, khoẻ mạnh. Nhữ anh ấy tiêm chích rồi mang bệnh về nhà, con chết, cháu chết thì nhà mình tuyệt tự mất thôi. Con xin bố mẹ cho con lánh về nhà sinh cháu. Giấy tờ nhà con xin giao lại cho bố mẹ, bố mẹ có thương thì sau này cho cháu chứ con tuyệt không giám tơ hào. Cái số con nó khổ…hhu…hhu…Bố mẹ tha lỗi cho con!

Ông Quang đánh rơi chén trà xuống đất, bần thần:

- Vậy là nhà này còn có phúc. Bà ơi, thôi đừng mắng oan con. Nào, con đứng lên, con không có lối gì cả. Làm vậy là phải, thằng Giang ngu muội không biết quý trọng cuộc sống, coi như bố mẹ đã mất nó. Con không phải đi đâu cả, cứ về đây bố mẹ sẽ chăm sóc con. Đúng không hả bà?

Dường như không lường trước được tình huống này, bà Lan nghệt mặt hết nhìn con dâu lại nhìn chồng. Bà không biết phải xử sự thế nào mới phải. Giá như bảo bà từ chối hay nhân một mối hàng tiền tỷ bà có thể quyết ngay trong năm phút. Đằng này…

- Có thật là con thằng Giang không? Thôi được rồi, cô về dọn sang đây. đừng để nhà tôi mang tiếng không nuôi nổi con nổi cháu.

- Xin mẹ đừng cay nghiệt với con thế. Con có thể nuôi cháu một mình kia mà. Nhưng nó có tội tình gì mà không được nhận bố, nhận ông bà. Bố mẹ con già rồi, lại chỉ có mình con, con muốn xin về bên ấy để được gần bố mẹ cho khuây khoả.

Biết là không lung lạc được con dâu, ông Quang đứng lên đi vào nhà trong để mặc hai mẹ con nhỏ to phân bua phải trái. Lát sau, ông quay ra, tay cầm một tờ ngân phiếu:

- Con đã quyết vậy thì bố mẹ không ép. Bố chẳng có nhiều, đây, cho con ít tiền để mua đồ bổ dưỡng. Con cứ về trước, chiều bố sẽ đưa mẹ sang có lời với ông bà bên ấy.

- Ơ kìa ông, từ từ bàn cho nát đã nào. Tôi là tôi…- Bà Lan vớt vát.

- Thôi bà ạ. Con cháu mình cả mà. Để cho nó về bên nhà tôi và bà cũng đỡ khổ tâm. Con đi đi. Chừng nào thằng Giang về bố sẽ nói chuyện với nó.

- Con cảm ơn bố mẹ. Vây con xin phép…

Chưa dứt câu, Hường đã vội chạy ra dắt xe xuống đường, đề ga phóng luôn. Đặt tay lên bụng mình, cô bất giác mỉm cười.

*

Những tháng mang thai khó nhọc làm H]ờng trở tính cáu gắt liên tục. Cae nhà ai nấy lặng lé với công việc của mình và tránh động đến cô. Chỉ có bà Châu là luôn luẩn quẩn bên con gái.

- Chịu khó ăn thêm chút nữa đi con, ăn cho đứa bé nó khoẻ.

- Mẹ kệ tôi, đang tức muốn chết đây. Đúng là nợ chứ con với cái nỗi gì. Việc thì ngập ra mà cứ phải ngồi đây ôm cái của nợ  này. Mẹ mua cho tôi ít ốc nhé, tôi thèm ốc quá.

- Không được, ăn ốc sau này cháu sẽ bị nhiều dớt dãi lắm. Con chịu khó kiêng một tý sau này nuôi con đỡ vất vả.

- Ôi dào. Còn phải kiêng đến bao giờ nữa. Biết vậy phá quách đi cho xong.

- Đừng ác miệng thế con. Cố ăn lấy một tý. Chỉ hơn tháng nữa là đẻ rồi, chịu khó ăn cho đủ chất. – bà Châu nhẫn nại.

- Rồi…rồi… Con ăn đây. mà con nói trước, đẻ xong là con đi Nhật mấy tháng đấy. Mẹ liệu mà trông cháu cho con!

- Được rồi, con cứ sinh cháu, mẹ nuôi, được chưa nào. Con với chả cái. Chỉ giỏi hành mẹ. Ăn đi nào.

Hường vừa ăn vừa nhăn nhó, bà Châu lặng lẽ nhìn con ăn, nét mặt rạng rỡ như thể người sắp sinh chính là bà. Bà lẩn nhẩm trong đầu tính toán ngày con gái sinh nở, đôi mắt ánh lên vẻ yên lòng.

Hường sinh con trai. Đứa bé giống Giang đến nỗi ông bà Lan phải bật khóc khi nhìn thấy cháu. Chỉ vài ngày sau khi con dâu xuất viện, ông bà làm thủ tục sang tên ngôi nhà của vợ chồng Hường cho bé Hoàng dưới sự bảo trợ của Hường. Thậm chí bà Lan còn mời luật sư thảo di chúc trao quyền thừa Kimế toàn bộ tài sản cho cháu. Cầm hai tờ giấy trên tay Hường gần như hoá điên. Cô khóc khóc, cười cười và hôn con nhiều đến nỗi bé Hoàng khóc thét lên khiến bà Châu đánh rơi cả bình sữa để lao vào dỗ cháu.

Tổ chức đầy tháng cho con xong là Hường đi Nhật. Thật ra cũng chả có việc gì to tát nhưng cô vẫn quyết đi bằng được. Hường sợ phải gần con. Bé Hoàng xinh xắn, bụ bẫm và rất ít quấy nhưng không hiểu sao mỗi khi nhìn con cô lại thấy bứt rứt không yên. Đôi mắt to đen láy của con lúc nào cũng long lanh như sắp khóc. Mỗi lần cho cháu ăn, nhìn khuôn mặt thơ ngây của nó là bà Châu lại thở dài. Linh cảm mách bảo bà điều gì đó thật mơ hồ… Bà chăm sóc đứa cháu bằng tất cả sức lực của mình để có thể phần nào bù đắp những thiệt thòi của đứa cháu vừa sinh ra đã không được gần bố mẹ. Từ ngày có Hoàng, ông Châu đỡ dửng dưng hơn dù ông coi Hường là loại mẹ diều tha quạ mổ. Mỗi lần nhìn thấy cháu, ông lại cù vào gan bàn chân chọc cho thằng bé toa toét cười. Mà đứa nhỏ hình như biết tính ông nên không mấy khóc khi ông có nhà, cứ ngơ ngẩn nằm trong nôi chơi một mình chờ đến khi bà cho ăn. Hình như nó hiểu rằng, trong ngôi nhà này, nó không nên khóc.

Sau chuyến đi Nhật, Hường mua cho con rất nhiều đồ chơi và quàn áo nhưng không mấy khi ở nhà với con. Ông Châu và bà Lan bận rộn với những phi vụ làm ăn nên chỉ có bà Châu chủ nhật nào cũng đẩy xe nôi ra công viên hóng mát nhân thể cho ông Lan thăm cháu. Ông rầu rầu báo cho bà biết tình trạng của Giang và xin bà lúc nào đó cho bé Hoàng tới thăm bố. Bà nghĩ ngợi một lúc rồi giục ông Lan vẫy taxi:

- Phải để bố con cháu gặp nhau ông ạ. Con Hường nhà tôi nó cạn tình như thế là không được. Không đi ngay lúc này tôi sợ không kịp… tội nghiệp cháu tôi.

Nói là cho bố con gặp nhau nhưng bé Hoàng chie được đứng nhìn bố từ xa. Bệnh của  Giang đã chuyển sang giai đoạn cuối, khắp người chảy mủ nên hất tay ra hiệu không cho con đến gần. Hai bố con trân trân nhìn nhau rồi Giang khóc nức nở khiến bé Hoàng mếu máo khóc theo. Chẳng ai cầm được nước mắt.

Hai tuần sau Giang mất. Hường không về chịu tang với lý do bận công tác mãi Vũng Tàu. Chỉ có bé Hoàng đeo khăn trắng ngồi cạnh bà ngoại trên xe tang, đôi mắt vẫn ẩm ướt. Đám tang của một người chết vì AIDS diễn ra lặng lờ, u ám.

*

Giang chết. Hường và ông Hùng đi lại tự do hơn. Ông Châu để mặc. Vả lại có nó ông cũng an tâm ngồi vững cái ghế trưởng phòng kế hoạch đến cuối đời dù mấy lần ông đã bị xếp vào diện xem xét cho nghỉ hưu theo chế độ 141. Chế độ cái con tườu, chúng nó định hất cẳng ông êm ái chứ quái gì. Đã vậy ông càng gan lỳ ở lại xem chúng nó làm gì được ông. Riêng bà Châu thì ngày đêm tụng kinh niệm phật mong cho con gái sớm hồi tâm chuyển ý và cháu bà hay ăn chóng lớn. Hường dọn đến căn nhà chung cư, lâu lâu mới về nhà đưa cho mẹ ít tiền rồi đi ngay. Cô vẫn không sao quen được với ánh mắt của con. Thật lạ!

Đang đêm thì Hường nhận được điện thoại của mẹ, giọng bà đứt quãng trong đêm tối.

- Con về ngay…bố bị tai nạn…mẹ không biết…thấy bảo có người cố tình va vào ông ấy…

- Mẹ bình tĩnh. Thế đã đưa bố vào viện chưa?...Bác sĩ bảo sao…nguy lắm ạ. Con về ngay. Mẹ gọi ai đó trông thằng Hoàng …được rồi, con biết… đã bảo mẹ bình tĩnh rồi mà… thôi nhé.

Hường bỏ máy, quay sang lay ông Hùng dậy

- Dậy ngay, tôi nói chuyện. Có phải anh sai mấy thằng nhóc tạt ngang đầu xe của ông già tôi không? Dậy mau lên…

- Để yên cho anh ngủ. Mai còn phải họp sớm.

Ông Hùng càu nhàu rồi kéo chăn che mặt, quay lưng ngủ tiếp làm Hường nổi đoá. Cô giật tung chănb rồi đạp thật lực vào lưng ông, hét lớn:

- Đồ giả tạo. Có phải anh chơi đểu bố tôi không. Cơm nhưng bò cưỡi rồi mà vẫn dùng thủ đoạn hạ lưu thế à?

Cú đạp có tác dụng tức thì. Ông Hùng tỉnh hẳn ngủ và lập tức hiểu ra:

- Khốn nạn, có đứa thò tay vào vụ này rồi. Nó xử ông già em thì có khác nào chặt tay anh. Anh không đưa ông già lên phó vì ngại chúng nó vu cho mình là phe cánh, hơn nữa anh vẫn muốn cụ ngồi cái ghế ấy để ở nhà giữ gôn cho anh. Anh lo cho cụ còn chưa hết nữa là…

- Vậy tính sao bây giờ. Ông già bị nặng lắm. Có qua khỏi chắc cũng nằm một chỗ. đứa vào chơi sát ván quá. Anh phải tìm cho ra. Em sẽ không tha đâu.

Thấy Hường mặt mũi căng thẳng, mắt tối lại đầy hoang dại như thể chính cô bị đánh. Ông Hùng ấn cô nằm xuống, khe khẽ vuốt lưng người tình:

- Em nghỉ một lát cho lại sức, gần sáng rồi. Anh biết là em cay lắm. Ông già dù sao cũng là lão tướng trong công tình yêu, chúng nó xử tệ quá. Anh nhất định không tha. En nghỉ đi, mai còn về sớm xem thế nào…ngủ đi.

Hường thở dài nặng nhọc, nhắm mắt để đấy mà không tài nào ngủ được. Ông Hùng gác tay lên trán nhìn trần nhà đăm đăm, trong đầu ngồn ngộn bao tính toán chỉ mình ông biết. Quay sang nhìn Hường thiêm thiếp ngủ, ông khẽ chép miệng rồi lại mỉm cười khó hiểu.

Rạng sáng, Hường vội về nhà. Bé Hoàng đang tha thẩn chơi một mình, thấy mẹ chợt oà khóc. Hường nhăn mặt gọi:

- Không có ai ở nhà hay sao mà để cháu một mình thế này. Nhỡ nó va vào đâu thì sao? Chị giúp việc đâu?

Người cháu của bà Châu ở dưới quê lên tất tưởi từ dưới bếp chạy lên, lúng túng phân bua: 

- Cô về rồi đấy à? May quá, bà đang ở trong viện với ông, thấy bảo ông tỉnh rồi. Tôi ngóng cô về trông cu Hoàng để tôi vào trông ông thay bà. Bà thức cả đêm hôm qua, chắc mệt mỏi lắm. Ơ kìa, sao Hoàng khóc mãi thế? Mẹ cháu đấy mà, ngoan nào, đừng khóc nữa con. Chắc tại cô ít về, cháu nó lạ. Hoàng ngoan nào, con đói rồi phải không…nín đi…bác cho con ăn ngay đây…

- Thôi, thôi…, chị ở nhà trông cháu. Để tôi vào chỗ ông. Tôi không chịu được tiếng trẻ con khóc.

- Vậy cô trông cu Hoàng hộ tôi một lúc. Tôi chạy ra đầu phố mua ít đồ dùng để cô mang vào viện. Chắc là phải ở trong ấy lâu đấy cô ạ. Tôi sợ bà yếu như thế cũng khó mà chăm ông được.

- Tôi biết rồi, chị xem dưới quê có còn ai thì gọi thêm một người nữa ra đây giúp tôi. Bố mẹ tôi sống cũng không đến nỗi nào, bây giờ mới là lúc cần đến sự giúp đỡ của họ hàng. Kià, chị mau đi đi rồi còn về.

Chị giúp việc tần ngần rồi đưa Hoàng cho mẹ, Hường rụt rè đưa tay đỡ con. Bé Hoàng nín khóc, ngơ ngác nhìn mẹ rồi xoè tay túm lấy lọn tóc quăn quăn, chơi mê mẩn. Hường nhìn con, chợt thấy nó thật dễ thương. Cô khẽ ngửi mùi thơm mơn man toả ra từ thân thể con mình. Lần đầu tiên sau gần một năm sinh con, cô mới cảm thấy bé Hoàng gần gũi với mình đến chừng nào.

Nghịch tóc mẹ một lúc, Hoàng mới nhớ là mình đang đói liền khóc váng nhà. Hường quýnh quáng bế xốc con lên làm Hoàng càng khóc tợn. Cô đặt con xuống rrồi vào bếp tìm hộp bột ngũ cốc cho trẻ con, đọc vội hướng dẫn sử dụng để pha chế mà loay hoay mãi không xong. Bé Hoàng tìm hơi mẹ, lẫm chẫm đi vào bếp, nước mắt nước mũi ướt nhẹp.

Thấy con lại gần, Hường càng cuống. Trước đây mỗi lần Hoàng khóc là bà Châu lao vào dỗ cháu, Hường chẳng mấy bận tâm nên lúc này cô không biết phải làm gì để con nín khóc. Một ý nghĩ thoảng qua rất nhanh, Hường bỏ lại mọi thứ dở dang tren bệ bếp, bế con vào buồng rồi rụt rè vén áo, kề sát bàu vú vào miệng con…

Một lúc sau chị giúp việc mới về, ôm theo đủ thứ khăn giấy rồi lẳng lặng xếp vào túi. Bé Hoàng đang chơi gấu bồng. Nó vốn chỉ quen ngậm vú cao su từ bé nên ngậm vú mẹ một lúc là chán mà cũng quên cả đói.

Hường nhìn con trìu mến. Nó là máu thịt của cô đấy. Cô đã mang nặng đẻ đau, đã tính toán, cân nhắc đầy ích kỉ khi sinh ra nó. Đã bỏ nó ở với bà từ khi lọt lòng mẹ. Vậy mà khi làn môi xinh xinh của nó ngậm vào bầu vú cô hăm hở, sung sường nhay nhay bằng hàm răng sữa đang nứt lợi làm cô đau điếng, cô mới thấy mình thật có lỗi với con.

- Cô ơi, tôi sắp sẵn mọi thứ rồi đây. Cô đi luôn cho sớm. – Chị giúp việc gọi vọng vào từ phòng khách làm Hường giật mình. Cô bế con ra phòng ngoài.

- Chị cho cháu ăn hộ tôi rồi thay cho cháu bộ đồ mới. Tôi với chị cho cháu vào thăm ông luôn thể.

Chị giúp việc nhìn Hường khuắn khoả:

- Cô tính thế là phải. Tôi cũng muốn vào xem ông thế nào. Cho cu Hoàng vào nữa chắc ông phấn khởi lắm. Dạo này hai ông cháu quấn nhau ra phết, Hoàng nhỉ?.

Bé Hoàng toét miệng cười, tay vung vẩy con gấu bông ra điều hiểu chuyện làm Hường và chị giúp việc bật cười.

*

Phòng cấp cứu hồi sức khoá chặt cửa. Hường nói mãi cô y tá mới đồng ý cho bà Châu bế bé Hoàng vào. Ông Châu đã tỉnh, đầu quấn băng trắng toát. Đứa cháu ngoại ngồi trong lòng bà vươn người ra bíu lấy ông, bi bô gọi. Hường đứng ngoài cửa nhìn ba người líu ríu bên giường bệnh, đầu căng như dây đàn.

Điện thoại di động rung, cô mở máy. Đầu dây bên kia vọng tiếng ông Hùng vội vã:

- Anh biết đứa nào làm vụ ông già em rồi. Em qua anh ngay để bàn xem nên xử nó thế nào?

Hường quay người nhìn vào phòng cấp cứu:

- Bọn nào thế? Thằng Dương phó phòng á. Khốn nạn thật. Em đang ở bệnh viện. Ông già bị nặng lắm, em chưa qua chỗ anh được đâu. Anh xử nó thay em. Vậy nhé!

Gập máy, cô thấy lòng gờn gợn. Nhìn mẹ tất tưởi lau rửa cho bố, Hườn g hít một hơi dài rồi đi như chạy về phía nhà xe.

Cơ quan vắng tanh, Hường đi thẳng vào phòng giám đốc mà không gõ cửa. Ông Hùng đang nói chuyện với ai đó qua điện thoại. Mái tóc đen mượt ôm cái gáy đầy đặn của ông gật gật lắc lắc “… mày bảo thằng Dương biến vào Nam một thời gian, anh sẽ kí giấy nghỉ phép cho nó…, ừ, lão Châu bị nặng đấy, có vượt được cửa tử cũng thành phế nhân… hà hà… chị Hường mày không biết gì đâu… lại còn giao cho anh xử lý vụ này… Ây, chú mày bậy nào, sống với nhau một ngày cũng nên nghĩa, phải từ từ mới rũ ra được, chị mày ghê gớm lắm… được rồi, anh nghe chú mày, sẽ hãm bớt chuyện làm ăn của mụ. Thế thôi nhé, bảo nó biến ngay kẻo lộ cả lũ. Hường đang dốc sức giúp anh một vụ tương đối, phải cho ăn kẹo thì mới dốc sức vì anh được…”

*

Con dao bấm phòng vệ Hường được ông Hùng tặng trong chuyến du lịch Thái Lan lần trước đâm ngập cán từ phía sau. Ông Hùng đổ vật xuống sàn, mắt trợn trừng không kịp hiểu việc gì xảy ra. Điện thoại cầm tay lăn xuống gầm bàn, đầu dây bên kia léo nhéo: “… alô, anh Hùng…alô… có chuyện gì thế…alô…”

Hường chưa hết bàng hoàng, hết nhìn xác người bất động trên sàn lại nhìn bàn tay mình vấy máu. Trong cô chợt hiện lên gương mặt con thoang thoảng mùi sữa và đôi mắt long lanh như sắp khóc. Cô rút điện thoại rồi bấm số…

Người công an trực ban đầu dây bên kia nghe được một giọng nói phụ nữ run run nhưng rõ ràng: “ Tôi gọi để báo án…phải…giết người…công ty…số…”

Hải Phòng, tháng 8/2005

PHẠM VÂN ANH

Nhà thờ lớn Hải Phòng

anhhp 20 December, 2011 07:32 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (41) Bản inBản in

Nhà thờ lớn Hải Phòng

http://www.pierre-dieulefils.com/Files/16916/553122219916.jpgNhà thờ lớn Hải Phòng toạ lạc ở phố Hoàng Văn Thụ và phố Phạm Bá Trực hiện nay. Khuôn viên có chu vi xấp xỉ 400 m. Ngõ chính nhà thờ, tức thánh đường, xây theo kiểu kiến trúc gô tích dài 47 m, rộng 17 m, đủ chỗ cho ngàn giáo dân đến dự lễ. Tháp chuông nhà thờ cao 28m. Còn có nhà phòng là nơi ở của các giáo sĩ, nhà khách, nhà làm việc… Đối diện với cổng nhà thờ phía đường Hoàng Văn Thụ là trường Dòng Saint Dominique (nay là Trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng). Toàn bộ các công trình kiến trúc tôn giáo rộng lớn này được xây dựng vào thập kỉ 20 của thế kỉ 19. Ngày ấy, công trình này to đẹp nhất dãy phố nên có tên ban đầu là phố Mission (phố Nhà Chung), năm 1954 đổi tên là phố Đắc Lộ, tên phiên âm Hán Việt của A-lếch-xăng Đờ-rốt, người có công đầu sáng tạo chữ quốc ngữ. Tên phố hiện nay là Phạm Bá Trực, tên một linh mục, một nhà tu hành chân chính, yêu nước, kính chúa, có công vận động giáo dân tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc. Linh mục đã từng giữ nhiều trọng trách như Uỷ viên Đòan chủ tịch Uỷ ban liên Việt Trung ương rồi Uỷ viên Đòan chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam, Uỷ viên thường trực Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Uỷ ban liên lạc công giáo Việt Nam .

http://static.panoramio.com/photos/original/8651081.jpgSau khi nhà thờ lớn Hải Phòng khánh thành. Toà giám  mục địa phận đã chuyển về đây. Vào những ngày lễ long trọng, nhất là ngày Thiên chúa giáng sinh, giáo dân và cả dân lương cũng nô nức đến nhà thờ dự lễ. Lễ Giáng sinh ở nhà thờ lớn Hải Phòng ngoài ý nghĩa tín ngưỡng còn là sinh hoạt văn hoá hấp dẫn mang đậm tính chất đoàn kết lương giáo.

Ở sân nhà thờ, dưới chân tượng thánh Jesu có tấm bia đá xanh hình khối chữ nhật, tạo năm 1866, ghi bằng chữ La-tinh, chữ Pháp, chữ Hán, nội dung có nhiều thông tin về dòng tu Dominique, phiên âm Hán Việt là dòng Đa Minh. Theo phần ghi chữ Pháp cho biết: Các linh mục dòng Đa Minh nước Tây Ban Nha đến Bắc Kỳ ngày 7 tháng 7 năm 1676. Ngày 5 tháng 7 năm 1848 Giáo Hoàng Pi-e chia làm 2 giáo đoàn. Từ năm 1676 đến năm 1866, dòng Đa Minh đã có 31 vị tử vì đạo, trong đó có 26 tu sĩ người bản xứ. Đến năm 1866, dòng tu Đa Minh (Tây Ban Nha) ở Bắc Kỳ đã có 3 giáo phận, với 20 vạn tín đồ. Phần chữ Hán ghi số lượng đạo đường (tức là những nhà thờ, đạo quán) của dòng tu này. Như vậy, dòng Đa Minh do các giáo sĩ Tây Ban Nha đến Bắc Kỳ, nhất là vùng ven biển, khá sớm và có ảnh hưởng sâu ở Hải Phòng và vùng phụ cận. Có lẽ vì thế, mà năm 1873, đại uý hải quân Francis Garnier đem quân ra Bắc Kỳ, hắn lên Hải Dương, xin ra mắt giám mục địa phận ở đây thuộc dòng Đa Minh, người Tây Ban Nha, nhưng bị từ chối. Khi hắn đến Hà Nội viết thư mời giám mục Puginier, người Pháp, thuộc dòng tu Jesuite ở Kẻ Sở, thì ông này lên ngay. Hiện tượng mâu thuẫn tranh giành ảnh hưởng giữa dòng Đa Minh với dòng Jesuite, giữa các cố đạo người Tây Ban Nha và người Pháp cũng thấy biểu hiện ở nhà thờ xứ đạo Liễu Dinh (huyện An Lão).

http://hoaphuongdo.vn/news/images/news/chinhtrixahoi/thang12va1/tuan4/noel1.jpgĐêm 27 tháng 8 năm 1934, đoạn đường trước cửa Nhà thờ lớn xuất hiện nhiều biểu ngữ, nội dung đòi Pháp phải trả lại Hiệp ước 1884 (tức Hoà ước Pa-te-nô-tre) gồm 19 điều khoản, đại để cũng như hoà ước Hamand, chỉ thay mấy điều khoản và có điều khoản bổ sung quan trọng, triều đình Huế công nhận Pháp bảo hộ 2 xứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ, mỗi Kỳ có hình thức cai trị khác nhau. Và từ đó, nước ta thuộc về nước Pháp bảo hộ, chứ không thuần phục nước Tàu nữa. Nhưng dần dà Pháp lấn tới, thực quyền về cả tay người Pháp, triều đình Huế chỉ là hư vị.  Sau đó, Pháp ngờ ông Hoàng Tích Phúc ở Hạ Lý dán biểu ngữ nên đã bắt giam.http://farm6.static.flickr.com/5163/5290392257_c3026ec088.jpg

Thế lực dòng tu Đa Minh còn duy trì đến trước ngày toàn quốc kháng chiến. Vì theo báo Hy Vọng, ngày 15 tháng 2 năm 1937, giám mục Kinenow, người Mĩ, trông coi địa phận Phúc Kiến, Trung Quốc, thuộc dòng tu Đa Minh, đã đến thăm toà giám mục địa phận Hải Phòng để quan sát tình hình giảng đạo ở đây và trao đổi kinh nghiệm.

Cũng theo báo trên, ngày 7 tháng 4 năm 1940, Đức cha Ricardo Rodrigue, người Italia, là nhà thần học có tên tuổi, đã là giáo sư ở Mani được giáo dân Hải Phòng nồng nhiệt đón tiếp và Đức cha đã làm lễ tại Nhà thờ lớn.

Từ ngày toà giám mục địa phận chuyển về Nhà thờ lớn Hải Phòng, các vị giám mục đã được toà thánh La Mã bổ nhiệm làm giám mục Hải Phòng,

TRẦN HỒNG ÁNH

Tập thơ "Hương nhãn" - nặng lòng cố hương

anhhp 11 December, 2011 00:13 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (66) Bản inBản in

altCó một Câu lạc bộ thơ ở Hải Phòng ra đời và hoạt động được hơn một năm nay, duy trì sinh hoạt đều đặn vào chiều ngày chủ nhật tuần cuối mỗi tháng. Đó là Câu lạc bộ thơ Hương Nhãn. Hội viên của Câu lạc bộ này chưa đông và chủ yếu là người nghỉ hưu, hiện sống rải rác ở các quận và một số huyện ven nội thành Hải Phòng. Họ có chung quê quán là tỉnh Hưng Yên, nơi coi loài cây nhãn lồng nổi tiếng là đặc sản. Họ làm thơ trước hết để bộc bạch sự nặng lòng với cố hương Hưng Yên.

altCách đây 5 năm, ngày 10-12-2006, Tổ đồng hương Hưung _Yên tại khu vực Cơ khí Hạ Long thuộc quận Ngô Quyền (thành phố Hải Phòng) được thành lập. Trong quá trình hình thành và phát triển của Tổ, một nhóm thơ ra đời mang tên Hương Nhãn, tập hợp những người yêu thơ quê Hưng Yên đang sống và làm việc tại Hải Phòng. Số hội viên ngày thêm đông và Câu lạc bô thơ Hương Nhãn dã ra mắt.

Mới đây, Nhà xuât bản Hội Nhà Văn cho ra mắt bạn đọc tập thơ Hương Nhãn của Câu lạc bộ thơ Hương Nhãn ở thành phố Hải Phòng. Tập thơ 96 trang, giới thiệu 58 bài thơ chọn lọc của 16 tác giả. Trong đó có những tác giả quen thuộc với bạn yêu thơ thành phố Cảng như: Hoài Khánh, Nguyễn Đình Di, Lưu Đình Hùng, Nguyễn Ngọc Thịnh, Giang Điền, Nguyễn Xuân Thông,...

altChiều hôm nay, chủ nhật 11-12-2011, Câu lạc bộ thơ Hương Nhãn họp mặt tổng kết hoạt động trong năm nay và công bố ra mắt chính thức tập thơ Hương Nhãn vừa mới in xong. Nhân dịp này, Blog Trần Hồng Ánh xin giới thiệu với bạn đọc gần xa về tập thơ này qua bài của ông Nguyễn Đức Vịnh - Trưởng Ban liên lạc Đồng hương Hưng Yên tại Hải Phòng.

Tập thơ Hương Nhãn - nặng lòng cố hương

Tổ chức Đồng hương Hưng Yên tại Hải Phòng được thành lập từ tháng 1 năm 1987, tới nay đã ngót 25 năm và có trên 1.100 hội viên, tập trung ở các quận trong thành phố.

Tổ đồng hương Cơ khí Hạ Long thuộc quận Ngô Quyền có trên 40 hội viên, là một trong những Tổ hoạt động xuất sắc của Đồng hương Hưng Yên tại Hải Phòng. Cùng với các hoạt động tình nghĩa đối với hội viên và các hoạt động hướng về quê hương, Tổ còn đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ; lập nhóm thơ "Hương Nhãn" gồm những hội viên yêu thơ của tổ, tổ chức sáng tác và sưu tầm các bài thơ hay để sử dụng trong sinh hoạt đồng hương.

Năm 2010, cuốn thơ "Hương Nhãn" gồm 35 bài của các hội viên, lần đầu tiên được in và phổ biến trong nội bộ. Cuốn "Hương Nhãn" được xuất bản lần này, ngoài các sáng tác của hội viên trong Tổ đồng hương Cơ khí Hạ Long, còn chọn lọc và giới thiệu nhiều bài thơ của một số tác giả khác cùng quê Hưng Yên đang sống và làm việc tại Hải Phòng. Đây là những vần thơ của các hội viên đồng hương ghi lại những kí ức, cảm xúc của mình về đất nước và người của quê hương Hưng Yên và về thành phố Hải Phòng - "quê hương thứ hai" đã gắn bó cuộc đời của các tác giả trong nhiều năm qua.

Ban liên lạc Đồng hương Hưng Yên tại Hải Phòng trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc .

NGUYỄN ĐỨC VỊNH

Trả đất - thơ và nỗi niềm trăn trở của người lính

anhhp 01 December, 2011 00:26 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (109) Bản inBản in

altNhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ Trả đất của Nguyễn Sĩ Nhân - hội viên Câu lạc bộ thơ Dương Kinh (huyện Kiến Thụy - Hải Phòng). Tác giả sinh năm 1937, từng là giáo viên lịch sử ở Trường phổ thông cấp 3 Kiến Thụy. 76 bài thơ trong tập được chia thành 2 phần. Phần đầu mang tên Đèn cù với 31 bài. Phần hai mang tên Thao thức với 45 bài. Thơ của ông chưa hẳn bài nào cũng hay, nhưng mỗi bài trong tập thơ này đều mang đến cho người đọc những rung cảm và trăn trở đồng điệu cùng tác giả. Nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm về ác giả và những bài thơ được chọn lựa in trong tập thơ này, Blog Trần Hồng Ánh xin giới thiệu bài của Vũ Hữu Phách sau đây…

Trả đất - thơ và nỗi niềm trăn trở của người lính

Ông tham gia Câu lạc bộ thơ Dương Kinh từ năm 2004, thuộc lớp người đã bước sang tuổi “thất thập ngũ niên”trong Câu lạc bộ. Ông là người sống có phần hơi “kín”, trầm lắng, không vồn vã, nhưng sâu sắc.

Ông sinh ra trong một gia đình nông dân, thuộc vùng quê đồng chua nước mặn (làng Tú Đôi, tổng Nghi Dương, phủ Kiến Thuỵ - nay là xã Kiến Quốc, huyện Kiến Thuỵ - Hải Phòng).

Tuổi thơ của ông đã phải chứng kiến bao biến cố đau thương tang tóc của gia đình, làng quê. Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi ấy ông 8 tuổi, còn quá nhỏ để nhận thức về một sự kiện lịch sử quan trọng, một bước ngoặt vĩ đại của dân tộc. Những gì ông nhìn thấy hàng ngày chỉ là những cảnh chết chóc, đói khát, những cuộc ly tán, bắt bớ, tra tấn, giam hãm, tù đày... xảy ra hàng ngày ngay trên quê hương. Những sự kiện đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đời, sự nghiệp của ông. Năm 1946, nạn đói chưa qua, dịch bệnh Cô-li-da ập đến, khắp đường làng, ngõ xóm… u ám, phảng phất mùi tử khí. Bất hạnh dồn dập đổ xuống gia đình ông. Lần lượt, từ ông nội, rồi đến bố ông bệnh tật ốm đau sớm qua đời. Hoạ vô đơn chí, lúc ấy mẹ ông vừa qua bận sinh đứa con thứ 8 được mấy ngày, đau xót, gào khóc đến kiệt sức rồi chết. Người em út của ông rốn còn chưa kịp khô, khát sữa mẹ đến tàn hơi mà chết. Bảy anh em chỉ còn biết trông cậy duy nhất vào sự đùm bọc nuôi nấng của bà nội. Rồi những tháng ngày sau, các anh chị của ông cũng lần lượt bí mật rời nhà đi làm Việt minh. Một lần ông chính kiến cảnh anh ruột mình bị địch bắt trói quặt, tra tấn dã man mà không dám gọi tên anh! Rồi chúng đưa đi giam ở đề lao. Trong những cơn phong ba dữ dội của gia đình, ông đã cảm nhận, và le lói hy vọng một điều gì rất lớn lao thôi thúc ông. Ông bí mật trốn nhà, tham gia lực lượng kháng chiến, rồi tình nguyện gia nhập quân đội. Năm ấy ông Mười bảy tuổi, việc học hành tạm dở dang. Ngày hoà bình, ông xuất ngũ, tiếp tục việc học. Năm 1965 ông tái ngũ, ước mơ vào giảng đường đại học đành tạm gác lại. Năm 1970 ông ra quân, rồi thi đậu vào học tại khoa Sử - Trường đại học Sư phạm Hà Nội I. Năm 1974, ông tốt nghiệp ra trường được phân công về dạy học tại trường huyện.

Có lẽ những trắc trở, gian khó, những cố gắng vươn lên trên chặng đường là người lính, người thầy trong cuộc đời… nên những bài thơ của ông phần lớn mang nặng nỗi niềm trăn trở, suy tư về con người và những biến động của xã hội.

Thơ của ông kiệm lời, mà giàu tính tư tưởng:

Đọc bài: “Lính quê ta”:

Sao trên trán đã lặn

 Sao trong đầu bao la

 Những người lính quê ta

 Mặt trận nào cũng có”.

Vẻn vẹn có bốn câu thể năm chữ, gọn gàng, súc tích mà khái quát được những giá trị to lớn về tinh thần và phẩm chất cao đẹp của những người lính Cụ Hồ trong mọi lĩnh vực, mọi thời đại.

Hoặc như bài viết về người thương binh:

Một chân thật trả đất

Bao chân giả đã mòn

Anh dắt cả vợ con

Đi nhiều bằng chân thật

(Anh thương binh)

Mượn một hình ảnh thật: Cái “chân giả” (là cái chân làm bằng gỗ của người bị cụt chân) đi nhiều nên “đã mòn” - Cái rất cụ thể, có thể nhìn thấy, sờ thấy nhưng là giả! để nói đến cái “chân thật” nhưng không chỉ là cái chân bằng xương bằng thịt (cái chân còn lại, chưa bị cụt) để liên tưởng đến một triết lý về ý thức hệ: “Chân thật” (phạm trù tư tưởng). Chân giả mòn có thể thay, cần phải thay. Còn chân thật, kể cả đã “trả đất” vẫn luôn là điều kiện tiên quyết để không chỉ “dắt cả vợ con” mà còn mang lại rất nhiều điều tốt đẹp hơn cho cuộc sống

Anh dắt cả vợ con/ Đi bằng nhiều chân thật”, ý tại ngôn ngoại, bài thơ rất ngắn mà sâu sắc.

Ở một mảng khác về đề tài hậu chiến tranh, trong bài Hỏi đất, không chỉ là nỗi niềm day dứt về thân phận của đồng chí, đồng đội và những người lính đã hy sinh:

Có tên mà vẫn vô danh

Có quê mà vẫn gửi mình nơi đây

Câu thơ như một tiếng vọng nghẹn ngào muốn nhắc nhở những ai một thời “đã nặng lời thề” trước vận mệnh của đất nước, thì nay sao có thể dửng dưng, càng không được phép lãng quên trước mong nguyện nhỏ nhoi của họ:

Hồn ai đi gió về mây

Chỉ mong cho được cốt này về quê.

Với ai đã nặng lời thề

Trăm sông ngàn núi đi về biết ai?

Bài thơ xúc động mà ám ảnh người đọc.

Trong bài Cảm nhận của ông viết về đề tài nhà giáo, vẫn phong cách sử dụng thể thơ rất kiệm lời, cô đọng:

Bước trên bục giảng

Đi trong cuộc đời

Mọi người nhìn tôi

Vẫn là thầy giáo.

(Cảm nhận)

Bài thơ mang tính tự cảm, khảng định nhân cách nhà giáo. Nhưng đó không chỉ là niềm tự hào, tình yêu nghề, mà là kết quả của sự trải nghiệm hiện sinh sâu sắc.

Trong mảng về đề tài xã hội, thơ của ông phần lớn nói về những suy tư, nhân tình thế thái, có tính gợi mở, như các bài: Bàn cờ tiên, Hạt cơm. Tượng, Chợ làng, v.v…

Bài Chợ làng là một bài thơ có ý tưởng hay, bằng thủ pháp kết hợp nhuần nhuyễn ca dao tục ngữ để chuyển tải một ý tưởng rộng hơn, sâu hơn, làm cho người đọc dễ chấp nhận:

Chợ làng ngày một đông vui

Gấp bao lần thuở em tôi lấy chồng”.

Câu mở đầu bài thơ như chỉ muốn mượn cớ nhắc lại một điều ai cũng đã thấy: ( có cô thì chợ cũng đông/ cô đi lấy chồng thì chợ vẫn vui - ca dao). Nhưng cụm từ “gấp bao lần” để so với cái ngày “em tôi lấy chồng” thì câu thơ được hiểu sang một nghĩa rộng hơn, mang tính thời đại, ngầm nói lên sự phát triển với tốc độ mạnh mẽ của làng quê. Chợ làng giờ người đến đông hơn, hàng hóa, sản vật phong phú hơn nhưng vẫn giữ nét một chợ quê dân dã mà chân chất tình người:

Trai khôn đến chợ càng đông

Nào ai muốn ngả cành hồng cho sang”.

Nhưng đấy chưa hẳn là cái đích cần đến của tác giả. Chỉ sau hai câu tiếp theo nêu tên một số sản vật đặc trưng (tôm, cua, rắn …) tác giả đã bất ngờ chuyển giọng: “Nào ai ong bướm một thời/Bầu giá xó chợ đứng ngồi cầu may”. Chao! Thì ra cái chợ quê bây giờ khang trang, đông vui, sầm uất là thế mà như vảng vất trong góc gách những khuôn mặt lam lũ, những mảnh đời cám cảnh! Cái nhìn tinh tế ấy chính là điểm nhấn tạo lên cái hồn của bài thơ. Bài thơ đã kín đáo giới thiệu, và khéo gợi để họa lên một bức tranh hoàn hảo cảnh chợ vùng quê nông thôn thời kỳ đô thị hóa.

Số bài thơ của ông in trên các ấn phẩm của Câu lạc bộ bộ thơ Dương Kinh chưa nhiều, nhưng nhìn chung thơ của ông trầm tĩnh, kiệm lời, không vồn vã, không chau chuốt cầu kỳ, lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu. Nhưng nhiều khi chính sự mộc mạc ấy vô tình đã làm hạn chế chất thơ trong một số bài thơ của ông, như câu:

Ở trong bụng mẹ cơm nuôi

Dẻo thơm cất tiếng chào đời nhẹ đau

(Hạt cơm)

Hoặc như bài Hoa đào.

Hoa thật nở mùa xuân

Bốn mùa hoa giả đẹp

Đố ai có diệu phép

Cầm hoa thật bốn mùa”.

Đang từ một chủ đề “hoa đào” nhưng cả bài thơ ta chỉ thấy nói: “hoa thật”, “hoa giả”, (mà mùa xuân đâu chỉ có hoa đào?) và lộ ra cái ngầm ý ám chỉ một khía cạnh xã hội: “đố ai có diệu phép”. Bài thơ thiếu sự lô gích và tính khát quát, loãng, chưa thuyết phục được người đọc.

Tất nhiên, đó chỉ là ý kiến theo cảm nhận cá nhân, chỉ mang tính trao đổi của người viết bài này. Nhưng với một người đã trải qua hai cuộc kháng chiến, với mấy chục năm nghiên cứu giảng dạy, những trải nghiệm cuộc sống và vốn tri thức của ông sẽ hứa hẹn những tác phẩm xứng tầm.

VŨ HỮU PHÁCH

Chuyến hàng mưa

anhhp 24 November, 2011 00:50 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (112) Bản inBản in

http://tongocthach.vn/tnthach_admin/news_images/images/News/NguQuoHung%5B1%5D.jpgHôm nay, 24-11 là Ngày truyền thống Công nhân Cảng Hải Phòng. Nhân dịp này, Blog Trần Hồng Ánh xin trân trọng giới thiệu về một tác giả văn xuôi của thành phố Cảng hiện đang là công nhân trên bến cảng - nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Anh từng sinh hoạt trong Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng với tôi từ cách đây hơn chục năm và trở thành người bạn văn chương thân thiết của những tác giả trẻ quen thuộc của thành phố Cảng như: Tuấn Anh, Hoài Khánh, Bùi Quý Thực, Sơn Hạ, Bùi Thị Thu Hằng,... Anh đã có 3 tiểu thuyết và 1 tập truyện ngắn. Nguyễn Quốc Hùng đã đoạt một số giải thưởng văn học như: Tiểu thuyết Chuyến hàng mưa, Giải khuyến khích của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam  năm 2006, truyện ngắn Giấc mơ về những chiếc lá khô, Giải Tư Cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ năm 2006 - 2007. Anh cho rằng: "Viết văn là nhọc nhằn, là một cuộc hành xác nhưng mỗi khi xong một tác phẩm tôi lại thấy nhẹ lòng thêm một ít. Mình đã trả bớt được một món nợ cho những nhân vật của mình". Sau đây, qua bài của Hoài Khánh, xin giới thiệu một tiểu thuyết tiêu biểu của Nguyễn Quốc Hùng viết về đề tài người công nhân ở Cảng Hải Phòng, nơi mà anh ngày đêm gắn bó với cuộc sống lao động của mình.

Chuyến hàng mưa - Tiểu thuyết của Nguyễn Quốc Hùng

alt

Từ tốn và khiêm nhường bước vào con đường sáng tác văn chương, Nguyễn Quốc Hùng vẫn tự hào và yêu say công việc của một người công nhân cảng Hải Phòng. Anh công nhân điều khiển cần cẩu chân đế ở Xí nghiệp cảng Hoàng Diệu này không xô bồ, ồn ã như người ta vẫn thường nghĩ về người công nhân cảng. Anh hiền lành, ít nói và nụ cười luôn hiện trên khuôn mặt dạn dày sóng gió. Yêu văn chương thì đến với văn chương, đơn giản vậy thôi, cũng như những cây bút trẻ ở Hải Phòng, anh tập viết truyện ngắn, mang bản thảo tới góp mặt cùng bạn viết, hàng tháng cố tranh thủ thời gian để đến sinh hoạt Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ thành phố. Rồi những truyện ngắn Người gặp vận may, Con thuyền vàng, Chuyện thường tình, Ông Phiện, Huyền thoại của làng, Trăng muộn, Phố nhỏ, Quán khách, Nhà bên kia sông... của Nguyễn Quốc Hùng được in rải rác trên một số báo và tạp chí ở Trung ương và địa phương. Rồi anh được kết nạp hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Rồi tập sách đầu tay của anh - tiểu thuyết Chuyến hàng mưa, cuốn tự truyện của những người công nhân cảng - vừa được Nhà xuất bản Hải Phòng cho ra mắt ban đọc.

Không hề sai khi nghĩ người công nhân ở bến cảng thật là vất vả. Họ có cánh lưng cong như cánh buồm, để quai vác hàng tạ hàng trên vai. Với những người công nhân bốc vác nặng nhọc như vậy, thì hơi sức đâu để mà lãng mạng, để yêu thích văn thơ. Anh công nhân cảng Nguyễn Quốc Hùng thì lại khác. Nhiều khi anh phải giấu mình vào chỗ khuất nào đó để viết về một ý tưởng thoảng qua trong đầu hoặc ghi lại những điều mình vừa quan sát được. Anh bộc bạch, nếu không làm như vậy, mọi người khác mà trông thấy lại cho rằng mình là một kẻ “dở hơi”. Nguyễn Quốc Hùng cố gắng ghi chép lại những sự việc đời thường, những sinh hoạt riêng tư trong cuộc sống của những người thợ bốc vác ở cảng Hải Phòng để xây dựng lên thành một cuốn tiểu thuyết về những người công nhân ấy.

Đúng như tên của cuốn tiểu thuyết, xuyên suốt 7 chương truyện là những cơn mưa kéo dài không dứt. Đó là những cơn mưa ào ạt, những cơn mưa xối xả đáp xuống số phận những người công nhân bốc vác trong một góc cảng Hải Phòng. Tâm điểm của tiểu thuyết Chuyến hàng mưa là nhân vật Tương. Anh ta vốn là một chàng nông dân ra thành phố. Những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống tập thể, những thăng trầm biến đổi trong công việc ở thị thành đã làm thay đổi con người Tương, biến một người nông dân ù lì trở thành một kẻ đa đoan, tính toán và đôi khi gian ngoan, lừa lọc. Đan xen giữa cảnh phố phường là cảnh làng quê. Nơi ấy tưởng như yên bình mà cũng đầy sóng gió. Xem ra ở đâu con người cũng lấy danh lợi làm mục tiêu để mình hướng tới. Cảnh vật lộn kiếm kế sinh nhai dưới những hầm hàng trong bụng những con tầu biển cập cảng, cũng như chuyện kiếm một chân chức sắc trong làng để nhằm mưu lợi, tiểu thuyết Chuyến hàng mưa của Nguyễn Quốc Hùng tái hiện gần như nguyên vẹn một giai đoạn xáo động của xã hội nước ta trong những năm cuối thời quan liêu bao cấp. Những con người thật thà, thô kệch như Phiện “gù”, đa mưu, tính toán như Ngọc “chột”, lừa lọc như Đoan “khê”... cũng đều là những nhân vật trong cuốn phim tường thuật lại cảnh sống của những những người làm nghề bốc vác. Cuộc đời của họ gắn với những lô hàng, những con tầu và quyện cùng những người đàn bà mà cuộc sống vật vã đã xô đẩy tới như Mong, Huệ “vịt”, Liên “khờ”...

Dọc theo tập tiểu thuyết Chuyến hàng mưa, dường như bầu trời chưa bao giờ tạnh ráo được vài ngày. Nếu có cũng chỉ là vài vạt nắng chợt lóe lên rồi lại nhanh chóng nhường chỗ cho những đám mây đen, những cơn mưa ràn rạt tuôn làm ngập lụt cuộc sống của những người thợ biến chất như Tương. Hình như họ chẳng bao giờ có thể thoát ra khỏi được những cơn mưa ấy. Hình như họ cũng khó có thể toan tính với những chuyện đời thường, trước bao biến cố của cuộc sống để trở thành những người có vẻ cao sang như Tương hằng mong ước. Những cơn mưa đầy bất trắc như cuộc đời của con người vậy. Đây là đoạn đối thoại giữa 2 nhân vật Tương và ông Phiện:

-Anh sống an phận lắm.

-Đúng thế, bởi tôi biết khả năng của tôi chỉ có thế. Lưng tôi cong gập xuống chẳng qua tôi muốn làm hết cái khả năng tôi có để kiếm đồng tiền. Và tôi cũng biết đôi vai tôi chẳng gánh được gánh tiền nặng.  Thôi thì còn nhiều điều vui nữa trong cuộc đời mình cố tìm lấy để tận hưởng.

-Còn niềm vui gì nữa?

-Cái đó tôi không trả lời được và chú cũng tự tìm thấy.

Có lẽ một thông điệp Nguyễn Quốc Hùng muốn gửi gắm đằng sau cuốn tiểu thuyết Chuyến hàng mưa này là ở đoạn trích này. Hết những cơn mưa trời lại nắng, khi trót lạc sang một thế giới không phải dành cho anh, Tương đã tìm được đường về, tìm được niềm vui của một cuộc sống thấm đậm tình người.

Những nhân vật của Nguyễn Quốc Hùng đều là những con người mang dáng vẻ vất vả, khổ hạnh bởi cả cuộc đời công nhân đã phải chịu bao cực nhọc, đến khi nghỉ hưu dường như gánh nặng cuộc đời vẫn chưa buông tha, vẫn phải gồng mình lên trong trường đời. Nhưng tấm lòng của những con người mang hình hài khổ hạnh đó lại thật cao cả, đầy tình yêu thương giữa con người với con người. Những cái kết đều hướng tới một cuộc sống cao đẹp.

Nguyễn Quốc Hùng tiết lộ với bạn bè làm thơ viết văn trẻ ở Hải Phòng về cuốn tiểu thuyết thứ hai mà anh đang dồn công sức sáng tác. Đó là một câu chuyện về chính bản thân và cái làng quê nhỏ bé, nghèo nàn của anh. Tin rằng cuốn tiểu thuyết này sẽ được bạn đọc đón đợi vẫn với tình cảm ban đầu đã dành cho tác giả trẻ Nguyễn Quốc Hùng - một người công nhân cảng Hải Phòng yêu thích sáng tác văn chương.

HOÀI KHÁNH

Thơ của một cô giáo trẻ

anhhp 12 November, 2011 03:26 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (66) Bản inBản in

http://thpt-trannguyenhan-hp.edu.vn/Images/quangcao/TIT_0279.jpg 

Hôm nay, thứ bảy 12-11-2011, các thế hệ giáo viên và học sinh Trường Trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn - Hải Phòng tổ chức Lễ kỉ niệm 35 năm Ngày thành lập Trường (1976 - 2011) và khánh thành Tượng đài Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Trong số những học sinh cũ của ngôi trường này sau đó có những thành đạt ít nhiều về lĩnh vực sáng tác văn chương, phải kể đến nhà thơ Hoài Khánh (học sinh khóa 1977 - 1980) và cây bút trẻ Cấn Vân Khánh (học sinh khóa 1995 - 1998). Cả hai đều từng sinh hoạt trong Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng những năm 1999 - 2003 và giờ họ đã là những tác giả văn học thực thụ bằng những trang viết dần trở nên thân quen với bạn đọc gần xa. Chung vui với thày và trò Trường THPT Trần Nguyên Hãn và chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 đang đến gần, Blog Trần Hồng Ánh xin giới thiệu chùm thơ của một cô giáo trẻ dạy văn của ngôi trường này. Đó là Nguyễn Thị Hồng Thịnh - người cũng một thời sinh hoạt trong Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng với Hoài Khánh, Cấn Vân Khánh và bao bạn bè văn chương khác ở thành phố Cảng.

 http://www.diendantnh.com/administrator/images/Upload/IMG_6101_3072x2304.jpg

Hương thu

 

Ngỡ thu đi ngang qua cửa

Tuổi thơ thấp thoáng hiện về

Ầu ơ lời ru xưa cũ

Cánh cò chở nắng sang sông

 

Bất ngờ mùa thu qua cửa

Cho em chút gió giỡn đùa

Con đường vương bao lá nhớ

Ép vào trang vở ngây thơ

 

Xin thu đừng qua cửa nữa

Để em trả gió cho trời

Những gì em chưa dám ngỏ

Hương thu nói hộ em rồi.

 

Biệt khúc

 

Anh về chiều phai nhạt  

Nắng ứa vàng đi hoang  

Nghẹn lòng đong ký ức

Kỷ niệm đã cũ càng 

 

Anh về ngày dang dở

Thôi không còn đam mê

Con sông dào nghiêng ngả

Dấu buồn in trăng gầy

 

Anh về đường hai lối

Đông lạnh lùng len qua

Mùa xuân thay áo mới

Lời yêu xưa xa rồi.

 

NGUYỄN THỊ HỒNG THỊNH

Blogger nào tới Bến tàu không số?

anhhp 17 October, 2011 17:17 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (142) Bản inBản in

Cùng blogger Nguyễn Thánh Ngã thăm Bến tàu không số

altTrong chuyến ra Bắc, nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã - một blogger quen thuộc của tỉnh Lâm Đồng - đã tranh thủ xuống Hải Phòng chơi với bạn bè bloggers văn chương Đất Cảng. Ngay sáng ngày 17-10, anh đã có mặt bên Bến "tàu không số" ở quận Đồ Sơn - Hải Phòng, nơi cách đây 50 năm đã là nơi xuất phát bí mật của những con tàu không số, nơi ghi dấu tích ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23-10-1961) . 

Bạn bè bloggers Hải Phòng đã chọn Bến tàu không số là điểm tham quan đầu tiên ở Hải Phòng dành cho blogger Nguyễn Thánh Ngã. Trong không khí se lạnh của ngày cuối thu bên bờ biển mịt mờ sóng nước, những tấm ảnh kỉ niệm được chụp ghi lại cảnh blogger Nguyễn Thánh Ngã với anh em blogger Hải Phòng đứng bên Bia tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hi sinh trong khi làm nhiệm vụ trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong ảnh bên (từ trái sang phải) là các bloggers Trần Hồng Ánh, Hoài Khánh (Hải Phòng), Nguyễn Thánh Ngã (Lâm Đồng) và nhà thơ Quang Tuyến của Hải Phòng. Bức ảnh này do blogger Nguyễn Thái Thanh chụp. alt

Như chúng ta đã biết, ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, các nước tham gia Hội nghị đã long trọng tuyên bố tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia. Mỹ là nước trực tiếp giúp Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và là thành viên của Hội nghị Giơnevơ nhưng lại trắng trợn tuyên bố: “Mỹ không bị nội dung này ràng buộc”, từ đó ráo riết hất cẳng thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương, lấy vĩ tuyến 17 của Việt Nam làm giới tuyến quân sự tạm thời, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, biến miền Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, chia cắt lâu dài đất nước ta, ngăn chặn và đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc ở Châu á và trên thế giới, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa. Tháng 6 năm 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn, lập Chính phủ bù nhìn đồng thời thành lập phái đoàn quân sự đặc biệt của Mỹ (SMM) và “khẩn cấp” tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm; được Mỹ hậu thuẫn, tháng 5 năm 1959, Ngô Đình Diệm ban hành Luật phát xít 10/59 và Luật số 21, lê máy chém đi khắp miền Nam, gây nên những vụ giết người man rợ. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá II) họp tại Hà Nội, xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết xác định con đường giải phóng miền Nam là “Con đường cách mạng bạo lực”. Theo Chỉ thị của Bộ Chính trị, tháng 5 năm 1959, Tổng Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Phòng nghiên cứu hoạt động chi viện quân sự cho miền Nam. Thực hiện chủ trương của Đảng và Quân uỷ Trung ương, ngày 19 tháng 5 năm 1959, “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (đơn vị tiền thân của Đoàn 559) được thành lập. Ngày 1 tháng 6 năm 1959, Tiểu đoàn 301 trực thuộc “Đoàn 559” ra đời, tiểu đoàn có nhiệm vụ mở tuyến vận tải xuyên Trường Sơn để chi viện vũ khí, trang bị, lực lượng cho chiến trường miền Nam. Đến tháng 7 năm 1959, Tiểu đoàn 603 được thành lập, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển bằng đường biển chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam; Tiểu đoàn gồm 107 cán bộ, chiến sỹ, biên chế thành 2 đại đội, đóng quân tại thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Để giữ bí mật, Tiểu đoàn lấy tên là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”; được sự giúp đỡ của nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương, altTiểu đoàn nhanh chóng ổn định nơi ăn, ở và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho chuyến vượt biển đầu tiên vào Khu V. Phương tiện vận tải ban đầu của đơn vị là 4 chiếc thuyền gỗ, mỗi chiếc trọng tải từ 15 đến 20 tấn; thuyền có 2 đáy, phía dưới để vũ khí, phía trên để lưới và dụng cụ đánh cá, cải trang thành thuyền buồm đánh cá miền Nam. Sau khi chuẩn bị cơ sở vật chất, các đại đội tranh thủ ra khơi “đánh cá”, thực chất là tập luyện; tập kéo lưới, tập chịu đựng sóng gió, tập lấy phương hướng theo sao, theo địa hình; ban đầu tập gần bờ, sau đó xa bờ, tập ra khơi. Cùng với tập luyện, đơn vị tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, bồi dưỡng lập trường giai cấp, tinh thần dũng cảm, xây dựng ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sỹ và quán triệt phương án chiến đấu: nếu đưa được hàng vào bến an toàn, sẽ tìm cách huỷ tàu và đi theo đường bộ để trở lại đơn vị; nếu lạc đường, lạc hướng thì thả hàng xuống biển để giữ bí mật, trường hợp bị địch bắt cho nổ mìn phá thuyền. Cuối năm 1959, công tác chuẩn bị cho vận chuyển đã cơ bản hoàn thành; Đại đội 1, Tiểu đoàn 603 tổ chức chuyến thuyền vượt biển đầu tiên; nhiệm vụ của chuyến vận tải này là: chở 5 tấn vũ khí và thuốc chữa bệnh cho chiến trường Khu V; địa điểm cập bến là chân đèo Hải Vân. Tham gia chuyến đầu tiên gồm 6 người: đồng chí Nguyễn Bất, đại đội trưởng Đại đội 1 làm thuyền trưởng; đồng chí Trần Mức làm thuyền phó; 4 thành viên còn lại là: Huỳnh Ba, Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn Nữ. Để giữ bí mật, lợi dụng lúc thời tiết xấu, gió mùa đông bắc, 18 giờ ngày 27 tháng 1 năm 1960 (tức 30 Tết Canh Tý) thuyền nhổ neo; đêm đầu tiên, thuyền chạy thẳng ra vùng biển quốc tế, với ý định từ đó sẽ đi dần vào chân đèo Hải Vân; ngày hôm sau gió to, sóng lớn, thuyền có nguy cơ bị lật, 6 người kiên trì chèo chống nhưng thuyền vẫn cứ dạt về phía Nam và bị gãy một lái; đến ngày thứ 3, thuyền trôi vào Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), mọi người định chèo thuyền ngược ra thì tay lái còn lại gãy nốt; lúc này gió bắt đầu lặng, tàu tuần tiễu của địch và tàu đánh cá của dân ra biển ngày một đông, nếu ở vùng biển này lâu sẽ bị lộ; để giữ bí mật, thuyền trưởng Nguyễn Bất quyết định phải cho huỷ 5 tấn súng đạn và thuốc chữa bệnh xuống biển để xóa dấu vết. Tuy không có chứng cớ rõ ràng, nhưng 6 thủy thủ của ta vẫn bị địch bắt đưa đi giam ở các khu vực để tra tấn, khai thác, 5 thủy thủ đã hy sinh, chỉ duy nhất đồng chí Huỳnh Ba còn sống (được trao trả năm 1974). altChuyến đi đầu tiên không thành công, nhận thấy việc dùng thuyền gỗ, chạy bằng buồm, chở vũ khí vào chiến trường bằng đường biển có rất nhiều khó khăn và không an toàn, Quân ủy Trung ương quyết định cho Tiểu đoàn 603 ngừng hoạt động. Trong khi chờ đợi trên tìm phương án mới, Tiểu đoàn 603 giải thể, các đại đội chuyển về Tiểu đoàn 301 làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn. Đầu năm 1960, cùng với Phong trào Đồng khởi Bến Tre, cách mạng của các tỉnh đồng bằng Nam Bộ chuyển mạnh lên thế tiến công và trở thành cao trào đồng khởi rộng khắp; trước tình hình đó, yêu cầu về vũ khí trang bị, đạn và thuốc chữa bệnh trở thành vấn đề sống còn, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và phát triển lực lượng của các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng vận chuyển vũ khí, hàng hóa để chi viện cho chiến trường Nam Bộ; lúc này, tuyến đường bộ trên dãy Trường Sơn đã mở và hoạt động có hiệu quả, nhưng chưa vươn tới các địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng. Tổng Quân ủy tiếp tục chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương nghiên cứu đề án mới về xây dựng và tổ chức lực lượng vận tải biển chi viện cho chiến trường Nam Bộ và Khu V. Trong khi chưa có lực lượng để làm nhiệm vụ vận chuyển trên biển chi viện cho miền Nam, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các tỉnh ven biển ở miền Trung và Nam Bộ chủ động chuẩn bị bến, bãi và tổ chức đưa thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò, nắm tình hình địch, nghiên cứu tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí để kịp thời cung cấp cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam đang phát triển. Giữa năm 1961, Tỉnh Bạc Liêu điều hai thuyền ra Bắc (còn gọi là Đội thuyền Cà Mau); thuyền thứ nhất do đồng chí Bông Văn Dĩa (Hai Dĩa) phụ trách, rời rạch Cá Mòi (Mũi Cà Mau) bắt đầu chuyến hành trình vượt biển ra Bắc, ngày 7 tháng 8 năm 1961 cập bến tại cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình); thuyền thứ hai do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm (Tư Lưới) phụ trách, ngày 3 tháng 8 năm 1961 xuất phát, khi đi ngang qua Huế thì thuyền bị thủng, phải quay trở lại Cà Mau để sửa chữa. Tỉnh Trà Vinh thành lập 1 khung cán bộ để đưa thuyền ra Bắc, do đồng chí Hồ Văn In (Bảy Thắng) làm thuyền trưởng, đồng chí Nguyễn Thanh Lồng (Hai Tranh) làm Chính trị viên; ngày 3 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát, ra tới Nha Trang gặp bão; sóng to, gió lớn thuyền trôi dạt sang Ma Cao (Trung Quốc) sau đó đi trở lại hướng Tây Nam; ngày 15 tháng 8 năm 1961, thuyền bị Bộ đội Biên phòng Trung Quốc giữ và đưa về Du Hải - Quảng Châu; ngày 16 tháng 8 năm 1961 đại diện Đại sứ quán Việt Nam đón và đưa anh em về Hà Nội, còn thuyền thì Bạn cho Tàu Nam Hải 136 chở sang bàn giao cho Ty Thủy sản Hải Phòng. Tỉnh Bến Tre tổ chức hai thuyền ra Bắc, thuyền thứ nhất do đồng chí Đặng Bá Tiên (Sáu Giáo) làm thuyền trưởng. 16 giờ ngày 17 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát, sau 8 ngày đêm hành trình, vật lộn với sóng, gió và né tránh sự kiểm soát của địch; ngày 24 tháng 8 năm 1961, thuyền đã chở 6 anh em cập vào bến Hà Tĩnh; thuyền thứ hai do đồng chí Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách, ngày 28 tháng 8 năm 1961, thuyền cập vào bến Thanh Hoá. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, bất trắc, nhưng thuyền của tỉnh Bà Rịa do đồng chí Nguyễn Sơn (Nguyễn Văn Phe) xã đội trưởng xã Phước Hải làm thuyền trưởng, đồng chí Lê Hà (Lê Văn Mây) làm thuyền phó, ngày 15 tháng 5 năm 1962 cũng ra đến miền Bắc an toàn. Như vậy, từ giữa năm 1961 đến giữa năm 1962, 5 thuyền của địa bàn Nam Bộ đã ra tới miền Bắc; những người con kiên trung của thành đồng Tổ quốc (trong đó có 18 đảng viên) đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất BCHTW Đảng Lê Duẩn và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương gặp mặt, ân cần thăm hỏi, động viên. Những chuyến thuyền từ Nam Bộ vượt biển ra Bắc thành công là một trong những cơ sở quan trọng để xúc tiến việc thành lập đoàn vận tải thủy tiếp tế vũ khí cho miền Nam. altNgày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 97/QP do Thứ trưởng Hoàng Văn Thái ký thành lập Đoàn 759 vận tải thuỷ, đồng chí Đoàn Hồng Phước làm đoàn trưởng; Cơ quan của Đoàn gồm có Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Hậu cần; lực lượng của Đoàn ban đầu có 38 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 20 đồng chí thuộc các thuyền của Bến Tre, Trà Vinh và Liên khu V vừa điều ra. Đoàn có nhiệm vụ mua sắm phương tiện, vận chuyển tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Đoàn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh, lấy nhà số 83 Lý Nam Đế (Hà Nội) làm trụ sở. Cuối năm 1961, đề án công tác của Đoàn đã được Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh thông qua; ngày 12 tháng 2 năm 1962, Tổng cục Chính trị có Quyết định số 09/QĐ thành lập Đảng uỷ Đoàn 759 do đồng chí Phạm Thái Hoà làm Bí thư. Quyết định thành lập Đoàn 759 thể hiện tầm nhìn chiến lược và sáng tạo của Bộ Chính trị mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, sự ra đời của Đoàn 759 đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra bước phát triển mới của tuyến đường vận tải chiến lược trên biển. Ngày 23 tháng 10 trở thành ngày truyền thống của Đoàn 759 trước đây, Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay, đồng thời là Ngày mở Đường Hồ Chí Minh trên biển.

Sau đó, chúng tôi đưa anh Nguyễn Thánh Ngã ra thăm Bến Nghiêng, nơi ngày 13 tháng 5 năm 1955, tên lính viễn chinh Pháp cuối cùng cuốn cờ rút khỏi đất liền Miền Bắc Việt Nam. Trong bức ảnh trên, từ trái sang phải, là Hoài Khánh, Nguyễn Thánh Ngã, Bùi Thị Thu Hằng, Quang Tuyến, Trần Hồng Ánh. Trong ảnh trên đây, từ trái sang phải, là Quang Tuyến, Nguyễn Thánh Ngã, Hoài Khánh, Bùi Thị Thu Hằng, Nguyễn Thái Thanh.

altCách đây vừa đúng 50 năm, với tầm nhìn chiến lược và sáng tạo, Đảng và Quân đội ta quyết định mở Đường Hồ Chí Minh trên biển. Có hàng trăm chuyến tàu thuyền lớn nhỏ, vận chuyển hàng chục ngàn tấn vũ khí, hàng hóa từ Miền Bắc chi viện cho chiến trường Miền Nam đánh giặc, Đường Hồ Chí Minh trên biển ghi dấu bao câu chuyện thần kì về lòng dũng cảm, đức hi sinh, sự tài trí của cán bộ, chiến sĩ ta; cùng những câu chuyện cảm động về tình đồng đội, về tinh thần vượt khó, chịu đựng gian khổ, thời tiết khắc nghiệt, xông pha nơi hiểm nguy, đối mặt kẻ thù. Dù thành công hay chưa thật trọn vẹn thì mỗi chuyến đi như thế đều là một chiến công. Thời gian sẽ qua đi, nhưng những sự tích anh hùng, những huyền thoại của “Đoàn tàu không số”, về Đường Hồ Chí Minh trên biển. vẫn mãi mãi ngời sáng trong trang sử oanh liệt của dân tộc ta như một thiên anh hùng ca bất tử, tô thắm truyền thống đánh giặc, giữ nước của nhân dân ta, Quân đội ta và Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam anh hùng, tiếp thêm sức mạnh cho mọi thế hệ phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Còn đây là bức ảnh chụp cuộc liên hoan gặp gỡ thân mật do gia đình anh Hoài Khánh tổ chức tiếp anh Nguyễn Thánh Ngã tại nhà hàng Nhất Ly trên đường Nguyễn Văn Linh (quận Lê Chân). Tại đây, lần đầu tiên 2 nữ bloggers Thy Nguyên và Muối Biển của Hải Phòng được ofline... Thế mà kể từ ngày cùng blogger Nguyễn Thánh Ngã thăm Bến tàu không số ở Đồ Sơn, đến hôm nay vừa tròn 1 năm qua đi.

TRẦN HỒNG ÁNH

Phía sau khe cửa

anhhp 14 October, 2011 13:46 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (66) Bản inBản in

altKhi đang là học sinh phổ thông, Cấn Vân Khánh đã ao ước được viết văn. Cấn Vân Khánh sinh năm 1979, từng là đại biểu Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ V, từng đoạt gải thưởng Tác phẩm Tuổi xanh về truyện ngắn năm 1998 của báo Tiền phong, là hội viên Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng. Cấn Vân Khánh có một thời gian sống ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và tốt nghiệp khoa lí luận phê bình - sáng tác văn học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tham gia làm sách, viết báo cộng tác với các báo VietNamNet, Tiền phong, Người lao động, Thanh niên... Cấn Vân Khánh đã xuất bản 2 tập truyện riêng: Chàng hề của em (Nhà xuất bản Trẻ, 1998), Hạnh phúc mơ hồ (Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2006) và 1 tuyển tập truyện ngắn Khi nào anh thuộc về em (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2007). Những trang viết của Cấn Vân Khánh có khi là truyện, có khi chỉ là tạp văn, nhẹ nhàng và mong manh, dịu dàng và day dứt, nhưng ấp ủ một nỗi buồn trong trẻo, hoang sơ của một tâm hồn nữ, của một tâm hồn trẻ, nơi những con người thuộc một thế hệ hiện giờ đang được khoác lên mình cái áo hiện đại. Nhưng chỉ cần đọc một truyện như Phía sau khe cửa sau đây cũng đã lại thấy nỗi lòng thăm thẳm muôn thuở của người đàn bà ở cây bút trẻ này. Tác giả đã dùng ba giọng kể, ba điểm nhìn, soi chiếu vào một sự việc, trong ba tâm trạng khác nhau của ba nhân vật, để nói được tối đa điều muốn nói bằng một số chữ tối thiểu có thể trong khuôn khổ một truyện ngắn. Chúng ta sẽ thấy thương cảm hơn những phận người, thương cho các nhân vật trong truyện, và thương chính ta hơn nữa sau khi đọc xong truyện ngắn này.

Phía sau khe cửa

Tôi chuồi người ra khỏi vòng tay cứng cáp đang quàng chặt thân mình. Không chớp mắt, tôi nhìn ra khoảng sân mưa ngập trắng xóa qua ô cửa sổ bé buông hờ một nửa tấm rèm nhung đỏ như màu máu nơi phòng ngủ của ông. Hơi lạnh rùng lên từng đợt khiến tôi co mình, kéo chăn lên ngang bụng rồi lúc ấy phải giữ nguyên tư thế vì tôi chưa kịp nhỏm dậy thì ông đã vùi đầu vào.

Những sợi tóc bạc. Chúng nằm ngả ngớn lên nhau, hiếm hoi lắm mới thấy một sợi đen chen vào. Tôi nhớ mái tóc của bố tôi, sự liên tưởng tuyệt đối này khiến lòng tôi se thắt. Tôi không tin là, sau ngần ấy thời gian, ấn tượng về bố trong tôi chỉ là những sợi tóc bạc. Chúng khiến tôi đau đớn hơn những trận đòn dã man bố thường quất lên tôi và các em sau cơn say rời rã.

"Lũ khốn nạn!" Bố thường hực lên một tiếng chửi rồi mới giơ tay lên, ôi những vết lằn mỏng hằn sâu lên tuổi thơ không có mẹ.

Sau đó là những nếp nhăn.

Những nếp nhăn kéo dài từ khóe mắt, xuống cằm rồi kéo suốt dưới bụng thành lớp mỡ nhăn nheo chồng lên nhau. Nếu ông nằm quay qua tôi, co người với tư thế của một con tôm, thì tôi hay đưa tay chạm vào chúng với xúc cảm lạ kỳ như chưa bao giờ được nếm trải trong đời. Và mỗi khi ngón tay út của tôi nghịch ngợm, ông chỉ cười và không để tôi phải đợi chờ lâu hơn, ông hôn tôi chậm rãi, cẩn thận, từng chút một. Sự dịu dàng của ông có thể khiến tôi mềm người vào bất cứ lúc nào.

Tôi yêu ông, tuy không phải ngay từ giây phút đầu tiên khi tôi xuất hiện ở căn nhà hoang vắng rộng thênh thang này với bộ dạng lếch thếch và khốn khổ. Nhưng có thể tôi đã ấn tượng những nếp nhăn của ông, khi ông chào tôi bằng hai cánh tay dang rộng, tựa như nỗi cô đơn của ông sau bao nhiêu tháng ngày đè nén giờ mới có dịp sổ tung. Ông xa lánh cuộc đời bằng cách không chịu ngồi xe lăn. Với ông chỉ có ô cửa sổ nhìn ra đám mây mờ mịt trên không trung là khoảng rỗng duy nhất trong thế giới bưng bít của riêng mình. Tôi yêu những nếp nhăn của ông, cũng như tôi yêu nỗi cô đơn ấy, nỗi cô đơn quý phái và xa lạ mà tuổi thơ xám xịt vì đói nghèo cơ cực của tôi chưa bao giờ biết đến.

"Trời mưa thế này, chắc bà ấy không về..." "Vâng!" "Em đói bụng chưa? Tôi nghĩ em cần phải ăn một chút gì đó." "Vâng." "Em ngoan quá! Lại đây nào, cho tôi ôm em." Tôi lại gần ông, ông đưa tay rờ lên tóc tôi mềm mượt non tơ và óng ả, ông vuốt ve kỹ lưỡng tưởng như từng sợi một không thoát khỏi bàn tay sần sùi ấy, khiến tôi nghẹn lại, nín thinh. "Em có thể nằm lên tôi, thế, tôi thích như vậy lắm." Tôi leo lên ông, e dè đầy hổ thẹn. "Sao em lại quay đi, nhìn vào mắt tôi nào!" Tôi nhìn vào mắt ông, và lại thấy những nếp nhăn cũ kỹ. Tôi tập trung vào điểm nhấn đó, mắt mở to. Có lẽ tôi đã rất quyến rũ ông vào những khoảnh khắc thế này, hoặc ngược lại tôi bị ông quyến rũ, trong tư thế trần truồng. Đã quá lâu, rất lâu rồi, dưới bụng tôi, ông cứng cáp nhường nào, luôn luôn, không mệt mỏi và không thuyên giảm.

Nhưng tại sao ông không giải thoát cho tôi? Gần hai năm qua chưa bao giờ ông muốn? Hay ông cố tình không hiểu rằng cơ thể thiếu nữ của tôi đang khao khát ông với những cung bậc nổi trôi, cuồng loạn đầy hoang hoải? Tôi mịt mùng không lối thoát. Và trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nhớ đến công thức nấu ăn bà dạy tôi chiều qua...

*

Trong phút giây này, thế giới của tôi chỉ còn có em thôi, em từ một nơi xa xôi kỳ ảo mà ông trời đã ban tặng cho tôi, giữa tháng ngày dài đằng đẵng hoang lạnh và đau đớn xen lẫn nỗi sợ hãi triền miên, mê man mục nát trong tâm hồn già cỗi.

Cả cuộc đời lăn lộn vì vợ, vì con, đến cuối đời, sau một cơn tai biến, tôi chỉ còn chiếc giường làm bạn. Nó là vật vô tri, vô cảm cho dù tôi có úp mặt vào thành giường hay đập đầu lên nó, nó vẫn im lìm, nằm lù lù một chỗ. Còn bà ấy, nào có khác gì nhau? Mỗi lần đụng vào bà ấy, trong tôi chỉ còn dấy lên cảm giác gần như là ghê tởm, vì những ngón tay khô khốc, hay vì ánh mắt bà lạnh lẽo đầy thù hận, hay người đàn ông trong tôi đã chết dần theo chuỗi ngày cô đơn, khốn khổ vì đôi chân tàn phế không thể nào cử động và một trái tim thoi thóp yếu đuối. Có nhiều đêm, tôi không ngủ. Bà ấy cũng không ngủ. Tôi buông lơi cho ý nghĩ dọc ngang trôi nổi đến đâu thì đến, thậm chí có lúc cầu mong một là tôi, hai là bà ấy chết quách cho xong. Những cơn mộng mị của tôi sặc mùi nhang khói và buổi sớm tinh mơ, tôi nặng trịch bởi cánh tay bà, cánh tay phình to, bèo nhèo mỡ đè nghiến lên ngực mình. Tôi chỉ muốn gạt phăng đi, nhưng bực bội, tức tối đến tuyệt vọng khiến tôi xuội xuống, mắt nhắm nghiền để rồi lại chìm trong cơn mê mệt và uất ức. Bà ấy không có lỗi, chỉ cuộc đời có lỗi, chỉ cuộc đời đưa đẩy đến nông nỗi này đây, cái gọi là tình cảm vợ chồng ngày càng mối mọt hoen rỉ theo sự bào mòn của thời gian, khiến mọi cái trở nên khô ráo và cạn kiệt. Nhưng đời tôi. Một ngày kia. Đã có em.

Em xuất hiện bất ngờ khiến lòng tôi thảng thốt, tôi như chiếc lá vàng cuối mùa đang chờ ngày rụng xuống chợt thấy mình xanh lại. Em nấu nướng, giặt giũ, em bón cho tôi ăn, em nhìn tôi trìu mến, em hát cho tôi nghe, em bé bỏng dịu dàng, không hồn nhiên như mọi bé gái ngây thơ khác bởi tuổi thơ quê mùa thiếu thốn. Nhưng đôi mắt em thẳm sâu chất chứa đầy hoài niệm đã khiến cho cái tuổi năm mươi chín của tôi chết chìm trong đó.

Tôi, biết bao lần muốn dấn sâu hơn, nhưng đôi mắt em khiến tôi ngưng lại ở những vuốt ve âu yếm và chỉ thế thôi. Tôi muốn gìn giữ cho em sự trắng trong tinh khiết vì em là thiên thần đích thực. Dù cả hai chúng tôi đều chờ đợi lắm rồi điều gì đó ở phía trước, giống như một khoảnh khắc thiêng liêng chưa thể nào xâm phạm. Tôi tranh thủ từng giây từng phút được cùng em, sự ngọt ngào ngắn ngủi ấy đủ để tôi gặm nhấm suốt đêm dài lê thê bên cạnh người đàn bà già nua lạnh lẽo kia. Như hôm nay, khi chiều đã quá muộn màng. Chiếc váy hoa em tự tay tụt xuống tận đầu gối. Dường như em đã rất sẵn sàng, với tôi.

*

Xung quanh tôi là bóng tối...

Vì ngoài trời đã đen kịt lại từ lúc nào. Tôi rời rã, và họ, có lẽ cũng rời rã sau những cơn hoan lạc. Hoặc có thể là không, vì đối với một người đàn bà đã quá tuổi mãn kinh như tôi đây, chỉ cần động chân động tay chút thôi là các khớp xương giòn tan trong cơ thể sẽ trở nên nhức nhối.

Tôi tiếp tục nhìn qua khe cửa.

Ánh mắt tôi lạnh nhạt khi nhìn lên cái giường, tấm drap màu kẻ nâu, cái gối cũng màu nâu đầy bi thảm của tôi. Hàng ngày, khi tôi (hoặc là họ tưởng lầm) đi vắng, họ quần nát lên đó. Như hôm nay. Như bây giờ. Cái thân hình nảy nở của con bé chưa qua tuổi mười bảy đè nghiến lên ông ta, khuất lấp, chìm trôi, chỉ còn tiếng thở phì phò của ông ta vọng ra lẫn với tiếng thở gấp của con bé. Con ô sin khốn kiếp, đáng nguyền rủa nhất trên đời mà cách đây hai năm tôi đã tha về từ một trung tâm giới thiệu việc làm uy tín để cưu mang, để rồi chẳng kịp dạy dỗ điều gì, bằng cách nào đó nó đã leo lên được cái giường của vợ chồng tôi, chồm hỗm thế kia. Và ông ta, chồng tôi, người đàn ông liệt giường liệt chiếu kia đã trở nên hăng hái như chưa bao giờ thế trong suốt mười năm sinh hoạt nói cười một chỗ.

Hàng đêm tôi vẫn nằm cạnh ông, vẫn đưa tay ra cho ông gối đầu, vẫn ôm hôn ông trong sầu muộn, chỉ để nhận về sự im lặng. Tôi đau đớn không kinh ngạc. Đôi khi nửa đêm, tôi ngồi dậy quan sát ông trong giấc ngủ, say sưa trước thân thể của ông, vì tôi chẳng bao giờ quên được những ân ái nồng say giữa chúng tôi. Dù quá lâu, rất lâu rồi, nhưng nó như những đường rãnh ăn mòn ăn mỏi vào tâm hồn tôi, người đàn bà dại dột đã hăng hái rước về một kẻ xa lạ ngang nhiên tước đoạt hết thiên chức, quyền uy của một người vợ.

Một là tôi sẽ đạp cửa xông vào, la hét loạn xạ, sẽ xỉa xói, nhục mạ, lột hết váy xống của con ranh con đĩ thõa kia tống cổ ra đường, thậm chí là tôi có thể giết chết hai kẻ sa đọa đàng điếm kia rồi đâm một nhát vào tim mình cho tan cửa nát nhà, cho kết cục đẫm máu. Hai là tôi sẽ tiếp tục đứng đây, như một tên ăn cắp, nhớn nhác sợ bị bắt quả tang đang rình mò bí mật của người khác nhưng chính vì thế lại tràn đầy khoái cảm, thỏa mãn và đau đớn khi không bị ai phát hiện. Nhưng rồi, sau cùng, tôi lại kéo dài tình thế, để làm gì thì tôi chưa biết được. Hay tôi đã chai lì và bệnh hoạn theo họ mất rồi?

Con bé đang thì thào gì đó vào tai ông ta, nó ghé miệng day nhẹ những sợi râu lưa thưa ở trên cằm khiến ông ta ghì sát với một quyết tâm lớn. À thì ra là sắp sửa. Con bé tì sát vào ngực ông ta, chỏm tóc hoe vàng rung nhè nhẹ khi ông ta ra sức ưỡn cái bụng nặng nề của mình lên. Một tiếng kêu nghèn nghẹt phát ra từ cổ họng con bé, nghe như tiếng mèo kêu và sau đó, tôi nhìn thấy chồng tôi sau cái rướn mình lần thứ hai bỗng đổ gập xuống, như một tàu lá chuối sau cơn bão. Mắt ông ta trợn ngược, tay vồ lên ngực trái. Con bé cuống cuồng vật ông ta ra, tru tréo, lần này không phải là tiếng mèo kêu, mà tôi nghe thảm thương như tiếng chó con lạc mẹ.

Ông ta bất động.

Lạ thay. Tôi ngật đầu quay bước. Những bước chân nhẹ tênh, vô cảm không hoảng hốt. Sau lưng tôi hai cánh cửa tự nhiên khép lại bởi một cơn gió lùa qua khe. Như cơn chấn động nhỏ, khi có một người từ giã mà đi.

CẤN VÂN KHÁNH

Gặp gỡ blogger Nguyễn Đình Xuân

anhhp 21 September, 2011 22:50 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (64) Bản inBản in

Gặp gỡ blogger Nguyễn Đình Xuân

Tối thứ hai 19-9-2011, mấy anh em bloggers Hải Phòng vui đón ông bạn Nguyễn Đình Xuân - một blogger Hà Nội. Là phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân, Nguyễn Đình Xuân thường xuyên về công tác tại nhiều đơn vị quân đội trên địa bàn Hải Phòng. Hầu như lần nào về đất Cảng, thì mấy anh em bloggers lại họp mặt vui vẻ như thế này...

alt

Ảnh trên, từ trái sang phải: Tuấn Anh, Nguyễn Đình Xuân, Bùi Quý Thực, Hoài Khánh, Nguyễn Quốc Hùng. Kẻ tặng thơ, người tặng truyện, các bloggers đàm đạo văn chương và ôn lại chuyện cũ, hết chuyện công việc sang chuyện blogging không đầu không cuối. Vui đáo để.

alt

Tưởng Hoài Khánh và Nguyễn Đình Xuân quen nhau đã lâu, nào ngờ cô bạn viết văn Cấn Vân Khánh còn quen Nguyễn Đình Xuân từ cái thuở blog 360yahoo chưa bị bức tử. Thảo nào thêm cô bạn Cấn Vân Khánh, bức ảnh trên đây cũng thấy dịu dàng hơn. Và dĩ nhiên, Trần Hồng Ánh tôi cũng thấy mình được thơm lây trong bức ảnh dưới đây.

alt

Thành phố vào thu

anhhp 14 September, 2011 12:55 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (44) Bản inBản in

Thành phố vào thu
http://hoaikhanh.vnweblogs.com/gallery/2810/Hai%20Phong%20mua%20hao%20phuong%20.jpg

 

Liễu chải tóc, soi gương Hồ Tam Bạc

Gió mùa thu in gót thảm cỏ mềm

Và ai nữa, bước chân cũng khác

Tôi ngập ngừng đi về phía nhà em

 

Hàng phượng vĩ đã thôi mùa rực đỏ

Cho hoa sữa bồng bềnh ngõ cũ thân quen

Trận mưa thu thầm thì tâm sự.

Vành nón nào nghiêng tím hoàng hôn

 

Những chiếc lá thả đầy mặt phố

Tôi nhặt lên ấp ủ lòng mình

Mỗi chiều về em đi ngang ngõ

Cả đất trời như thể bước vào Thu.

 

Hải Phòng, tháng 8-2000

TRẦN HỒNG ÁNH

Lát cắt Hải Phòng

anhhp 12 August, 2011 02:39 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (48) Bản inBản in

altNhà thơ Lưu Đình Hùng - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng- vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho ra mắt bạn đọc trường ca Giọng biển. Trường ca ghi lại những cảm xúc chân thực của tác giả về một thời hào hùng của dân tộc trong kháng chiến chống xâm lược trước đây và những năm tháng gần đây với những chuyển động tích cực của đất nước trên chặng đường đổi mới.Trường ca gồm 2 phần:Phần I - Nơi ta ở , gồm 6 chương: 1. Miền xưa; 2. Ra trận;3. Miền Trung; 4. Đèn tim; 5.  Nhân ngày giỗ trận; 6. Hành trình tìm mộ; Phần II - Hơi ấm ngày thường gòm 9 chương: 1. Miền dân gian; 2. Lửa và cây tre trăm đốt; 3. "Thơ ấy mà"; 4. Nế có một ngày; 5. Mưa hoang; 6. Nơi con sóng đến; 7. Đất; 8. Thưa cùng Nguyễn Trãi; 9. Lát cắt Hải Phòng. Tôi đã đón nhận tập sách này do tác giả gửi tặng. Xin chúc mừng nhà thơ Lưu Đình Hùng với tập trường ca vừa ra mắt và xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc gần xa về một chương cuối của trường ca này.

 

Lát cắt Hải Phòng

 

Lũ lượt vào phố những tốp thợ cấy thợ cầy.

Xe đạp cà tàng đèo hàng cọc dọc cọc ngang.

Vừa đạp xe vừa bàn tán chuyện học hành, chuyện ganh chuyện đua, từng món tiền phải lo cho con, cho ông bà và cưới xin giỗ chạp.

Cứ như thể nó là hành trang mang theo người lên giường xuống đất đi chợ đi buôn.

Trục xe cót két lẫn tiếng nói  cười và nét mặt dạn dày sương gió.

Tự nhiên như hít thở khí trời, như là mọi nhẽ tất nhiên phải vậy.

Mặc ông nọ bà kia nhà lớn, xe sang, bị bắt bị tù lên voi xuống chó .

Việc đồng việc áng việc nhà việc cửa, việc con cái, có mấy con lợn nái trong chuồng cho làm trọng.

 

Thành phố chưa đón mặt trời sương sớm theo vệt xe đi.

Trong gió ngửi mùi bùn quần áo của nhau,.nứt nẻ chân chim dép nhựa..

Bòn mót từng đồng tiền lẻ, dè sẻn chén nước chè quả ổi.

Bỗng thấy đời sáng bừng khi nghe tin cháu con đỗ đạt.

 

Bài văn thi có bóng cây bồ kết ở khu Tư.

Có ánh đèn nhe nhói trong tim rừng mùa chiến dịch.

Có hương thơm vào một ngày giỗ sau thời trận mạc.

Có bóng người đi tìm mộ người thân.

Thả hồn vía về miền dân gian..

Thổi ống sáo từ cây tre trăm đốt.

Thơ ấy mà! Nếu một ngày lên cơn điên vật chất.

Thì làm sao thuần hóa giọt mưa hoang.

 

Nơi con sóng đến đất đai, bài lịch sử chợt đau cùng Nguyễn Trãi.

Như vất vả trăm quê ta có một Hải Phòng.

 

Vượt Cầu Niệm, Cầu Quay, Cầu Bính...Cầu Rào toả vào chợ phố mặc cả xuống lên.

Gương mặt chợ đêm mải lãi lỗ quên luôn giấc ngủ.

Thúng cát trên đầu, gánh gạch trên vai bập bềnh xà lan sông dài bãi rộng .

Mùa hè mồ hôi như tắm, mùa đông áo quần như bao.

Cười nói xôn xao nhịp sống dòng trôi, bình thản thuỷ triều lên xuống.

Xẩm tối mớ rau con tép con tôm nổi lửa rơm thơm gia đình đoàn tụ.

Cám lợn cám gà trong nhà ngoài sân tất tật một tay đàn bà thu vén.

Chén rượu vại bia nhấp nhổm ông chồng lo chuyện viển vông to lớn.

Con bé che đèn  học nếm học thêm.

Tối nay ti vi có Thị Màu lên chùa tí nữa thì quên.

Mắt ngó màn hình tay tranh thủ chuẩn bị vài thứ mai còn  chợ sớm.

 

Và có thể..

Trạng lại được sinh  ra.

10-2010

Điều trái ngược

anhhp 05 August, 2011 02:03 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (32) Bản inBản in

http://hoaikhanh.vnweblogs.com/gallery/2810/12%20nam%20CLBSTVHTHP.jpgCách đây 12 năm, tại trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng, chiều ngày thứ năm 29-7-1999, Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng với 29 thành viên ban đầu đã làm lễ ra mắt. Ngoài mấy hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, như: Vũ Thúy Hồng, Vũ Thị Huyền, Hoài Khánh, Lưu Quang Phổ,... có mặt ngay từ đầu với vai trò nòng cốt, thì Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng có khá nhiều gương mặt trẻ ngày đó lần lượt được kết nạp hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, như: Tuấn Anh, Nguyễn Quốc Hùng, Lê Minh Thắng, Phạm Vân Anh, Bùi Quý Thực, Nguyễn Hoàng Lược, Phạm Thị Thùy Linh,… và có một số sau này còn trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, như: Vũ Thị Huyền, Hoài Khánh, Phạm Vân Anh. Nhưng có những anh chị em làm thơ, viết văn trẻ Hải Phòng ngày ấy do còn vướng bận học hành, công tác hoặc làm ăn xa nhà nên chưa có điều kiện gắn bó nhiều với văn chương. Tuy chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, nhưng một số cây bút trẻ ngày đó vẫn có được những trang viết đáng mừng, như: Cấn Vân Khánh, Nguyễn Hoài Hương, Sơn Hạ, Đinh Thúy Hà, Tạ Đỗ Hiền, Hồ Thị Kim Minh Ngọc, Đặng Hồng Đăng, Nguyễn Nam, Ngô Ngọc Hà, Nguyễn Trọng Tuấn, Đỗ Thu Hà, Phạm Quang Hiển, Mai Thu Hương, Nguyễn Hồng Thịnh,… Và dĩ nhiên không thể không nhắc đến Lương Kim Phương - người em út của Câu lạc bộ. Bây giờ Lương Kim Phương (trong ảnh: người ngồi thứ ba, từ trái sang phải) đã có nhiều năm dạy ngữ văn ở Trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo (huyện An Lão - Hải Phòng). Ngay từ khi là sinh viên đại học sư phạm Hải Phòng, Lương Kim Phương đã có không ít bài thơ, truyện ngắn và bài bình thơ, tiểu luận văn học được đăng trên sách báo Trung ương và địa phương. Bài thơ sau đây nằm trong số đó…


Điều trái ngược

 

Chàng trai của em

Anh đừng cố gồng mình đi nữa

Em hiểu những điều đã vỡ

Đang oà ra trong anh

 

Ở ngoài kia trời vẫn thắm xanh

Cơn bão đã qua và con tàu sẽ về bến

Có phải anh luôn tự nhủ lòng mình như thế

Sau những đắng cay gặp phải trong đời

 

Nhưng em muốn anh khóc lên, chàng trai của em ơi

Không vì thế em nghĩ anh là yếu đuối

Em không muốn anh một lần bối rối

Vẽ khuôn mặt yên bình, sau mặt biển bão giông

 

Sóng tan rồi, lại xa khơi anh biết không

Em chẳng nghĩ con trai cứ lạnh lùng mới là lẫm liệt

Em muốn một điều, một điều anh có biết :

Anh khóc được với chính mình, để lại mạnh mẽ hơn.

 

10-2003 

LƯƠNG KIM PHƯƠNG

Đợi mưa

anhhp 23 July, 2011 13:40 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (51) Bản inBản in

Đợi mưa

 

Chúng mình chung một mái hiên

Tay vuốt nước, mắt trộm nhìn nhau thôi

Em cúi đầu, khúc khích cười

Còn tôi bối rối đứng ngồi không yên

Giá mà nói được cùng em

Thì tôi cũng thấy gần thêm đường về

 

Tối nay lối ấy tôi qua

Gặp em đi với người ta ngược chiều

Bóng cây xiêu, bóng tôi xiêu

Trách đường chẳng nói cái điều tôi mong

Trên trời vô nghĩa vầng trăng

Và tôi vô nghĩa đi trong nỗi sầu

 

Nhờ mưa giăng lưới, buông câu

Cho tôi tìm lại buổi đầu gặp em.

1998

TRẦN HỒNG ÁNH

Thăm thẳm bình yên

anhhp 17 July, 2011 00:22 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (30) Bản inBản in

altNhà thơ Phạm Vân Anh sinh năm 1980 tại Hải Phòng, hiện vẫn là hội viên trẻ nhất của Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng và cũng là một hội viên trẻ nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Đến nay, Phạm Vân Anh đã xuất bản 3 tập thơ Tôi chào tôi (NXB Hải Phòng - 2004), Mùa tình (NXB Hội Nhà Văn - 2005) và Góc (NXB Hội Nhà Văn - 2009). Tập thơ đầu tay của Phạm Vân Anh đã đoạt giải thưởng cho tác giả trẻ của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam năm 2005. Ngoài ra Phạm Vân Anh còn đoạt giải thưởng Cuộc thi truyện ngắn và thơ trên Tạp chí Cửa Biển của Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật thành phố Hải Phòng năm 2004 - 2005 và một số giải thưởng văn chương và báo chí khác. Nhà thơ trẻ này còn sáng tác văn xuôi và có không ít truyện ngắn được bạn đọc chú ý. Đây là một trong những tác phẩm như thế.

Thăm thẳm bình yên

Truyện ngắn của Phạm Vân Anh

Từ tốn trang điểm, từ tốn dọn dẹp lại nhà cửa ngăn nắp, từ tốn viết lại vài dòng cho mẹ… vậy là ổn! Việc cuối cùng cần làm là nằm ngay ngắn trên giường và từ tốn uống từng viên, từng viên thuốc ngủ trăng trắng , nho nhỏ như nút áo búp bê.

50…55…70…90… bao nhiêu viên thì đủ? Sáng nay mua thuốc em quên hỏi người dược tá dễ mến đã thông cảm bán cho em số thuốc quá qui định khi nghe em trình bày bệnh mất ngủ kinh niên, lại chuẩn bị đi công tác miền núi lâu ngày, lên trên ấy biết tìm đâu ra thuốc ngủ loại này. Ngoài thuốc ngủ, em còn mua gần chục loại khác để tránh bị nghi ngờ nên không tài nào nhớ được số thuốc ấy giá cụ thể bao nhiêu.

Vậy ra, định giá sự sống đã khó mà định giá cái chết cũng chẳng hề dễ chút nào.

Viên thuốc ngủ cuối cùng giắt lại dướ cuống lưỡi. Đắng ngắt!

Nằm duỗi dài, thả lỏng cơ thể trên giường, mắt dán lên trần nhà, em lần lượt điểm lại những việc đã làm được trong ngày: Thủ tục sang tên nhà cho mẹ đã hoàn tất, đã vui vẻ dự một đám cưới, đã thất nghiệp, đã gọi điện chào tạm biệt bạn bè. Duy có cái hẹn overnight với gã Phó tổng giám đốc cáo già người Việt thích nói chuyện bằng tay hơn bằng lời là em cancel không báo lại. Gã đã khéo léo giăng bẫy để đánh đổi trơ tráo còn em thì nhẫn nhục đưa cổ vào tròng cho gã thít dần từng nút.

Trò chơi đã đến hồi kết, em là kẻ phạm luật chơi. Không sao, gã sẽ không bao giờ có được cơ hội trừng phạt em. Em sắp tự do!

Thuốc ngủ chưa ngấm, đồng hồ uể oải nấc những tiếng cụt lủn. Tệ quá! Em chợt nghĩ đến mẹ, người đàn bà mà số phận đã gắn với kiếp khổ ải triền miên. Bà đi bước nữa với người đàn ông thời son trẻ đã yêu bà đến thân tàn ma dại. Mẹ câm lặng gánh lấy gánh nợ ngang đường ấy đầy cam chịu.

Căn nhà cấp 4 mái tôn proximăng này em đã xây bằng số tiền anh gửi về giúp em học tiếp đại học trên nền ngôi nhà cũ. Em biết đó là số tiền công ít ỏi anh nhận được từ việc làm thợ phụ cho cửa tiệm giặt là nên chả giám tiêu hoang. Ngày ngày cùi cụi may hàng chợ, tối đến lớp đại học tại chức. Ơ cái xóm bát nháo dân vai cày vừa ráo mồ hôi đã hết tiền này, em là một vật thể vừa quen vừa lạ, vừa thân vừa sơ, dễ vay tiền và dễ quỵt nợ. ấy thế mà em lại trở thành bà chủ cho vay trả góp: Mấy cô gái điếm hết thời cần tiền son phấn – vay – nửa đêm đi khách về đập cửa đóng tiền không thiếu một xu, người nồng nặc mùi đàn ông; Những bà bán hàng rong cụt vốn cũng vay, lúc ế khách trả góp bằng thịt cá, rau quả; Cánh xích lô chở vôi thầu gạch vỡ trả nợ bằng đất đá và gạch cũ từ các công trình…Cho tới tận bây giờ, em vẫn không hiểu vì sao mình không bị quỵt nợ trong khí có hàng tá các bà chủ tay to, máu mặt bị người vay trốn nợ.

Nhà xây còn dở dang, em vừa lấy được mảnh bằng đại học cho bằng người thì anh về.

“ Có lẽ anh không đi nữa em à. ”

“ Thật không anh, ở lại với em nhé. Em không muốn đi Mỹ, thật đấy, ở đâu thì cũng phải làm mới mong có cái ăn. Em sẽ tìm việc làm, em sẽ nuôi anh. ”

“ Rồi, nuôi anh cấm được kể công đâu đấy. ”

“ Kể chứ sao không, vì chàng thiếp phải bưng mâm, ví như thân thiếp bốc ngầm cũng xong mà. ”

Rồi em nhận thấy anh khác lạ. Anh uống nhiều thuốc, đêm trằn trọc không ngủ. Anh bảo em đừng đi làm vội, hãy dành thời gian cho anh. Anh đưa em đi chơi, sắm cho em bao nhiêu đồ đạc. Anh luôn miệng nói em phải được hạnh phúc, phải được đầy đủ, em không được khổ. Có điều gì đó chẳng lành mách bảo. Anh thấy em chưa được hạnh phúc sao anh, còn gì hạnh phúc hơn là có anh bên cạnh!?

Nửa đêm tỉnh giấc, thấy anh ngồi bó gối nhìn em, ánh mắt dại đi. Em trườn vào vòng tay anh, thủ thỉ:

“ Mình cưới anh nhé. ”

“ Không được đâu em, anh không muốn em vất vả. Anh… anh không thể làm khổ em. Không thể đâu em…”

“ Hay mình sinh con anh nhé. ”

“ Càng không được, anh chán đất này rồi, chán cả cuộc đời này nữa. Anh không muốn ra đi mà còn đa mang. Quên anh đi, điều đó tốt cho em đấy.”

“ Nếu điều đó giúp anh thanh thản, em sẽ làm.”

Trở vào giường, lòng em tê tái, buốt xót trong từng mạch máu. Nỗi đau không bao giờ là cũ,kể cả khi ta đã tập sống chung với nó như bạn cùng phòng.

Sáng hôm sau, anh đi như trốn chạy. Không theo tiễn anh, không có đủ sức lực để đưa tiễn tình yêu ấy!.

Ba tháng qua nhanh, có thư về, thư rằng anh đã chết vì khối u trong não. Anh lặng lẽ đi trong cô độc, đi mà không tạm biệt em, không cho em được ôm anh, được nói cùng anh rằng anh quan trọng với em biết nhường nào… Sao anh ác thế!

Mất anh, em lao vào công việc. Em gặp chàng trong một buổi giao lưu đoàn thanh niên cùng khối. Chàng là công chức nhà nước hẳn hoi chứ không như em chỉ liên doanh làng nhàng. Chàng là kiểu mẫu của người thanh niên  có chí hướng, và hơn nữa, chàng là cộng sản “ nòi ”. Luôn đúng giờ, rõ ràng từng chi tiết, mọi việc đều cần có kế hoạch trước. Tuyệt không bao giờ có chuyện đưa em đi trong mưa hay ngắm mặt trời mọc trên bãi biển.

“ Em sẽ phải bỏ những thói quen không lấy gì làm tốt và phản khoa học ấy. Chúng ta lớn rồi, hãy xử sự như những người lớn ”

Chàng của em hùng hồn tuyên bố như vậy. Kiến bò râm ran khắp người nhưng bản năng đàn bà trong em mách bảo rằng đó sẽ là một người chồng tốt, có nguyên tắc và trách nhiệm. Phu xướng phụ tuỳ, em dẹp bỏ những cơn tự ái vào một chiếc lọ rồi bịt kín, lúc này em khao khát có một đứa con, nó sẽ là máu thịt, là cuộc sống của em. Có nó, em sẽ không cô đơn nữa.

Đời có mấy khi chiều lòng người. Những chuyến công tác dài ngày mở rộng thị trường và hàng tá đàn ông ong ve quanh em khiến chàng của em luôn có cảm giác yếm thế. Điện thoại reo hối hả:

“ Còn bình chân như vại ngồi đấy được hả. Nó xỏ mũi mày rồi em ơi. Con kia nghe đâu là con một cụ nào đó trên thành thì phải. Chiều  nào chả đón đưa nhau. Trừ thứ bảy vì bận học nghiệp vụ với mày đấy. Đã sáng mắt ra chưa, còn ” lý tưởng” nữa hay thôi? ”

Bà chị họ nói như xả liên thanh qua điện thoại. Đầy máy móc, em ấn điện thoại tới mọi nơi có thể để kiểm tra thông tin. Ai bảo có yêu mới ghen là sai toét. Ghen vốn dĩ là căn bệnh cố hữu của đàn bà khi vật sở hữu của họ có nguy cơ bị xâm hại. Không yêu lại càng ghen nhiều hơn vì bất lực, bất lực với chính mình.

Không khó khăn gì, bà chị họ lắm lời đã cho em cơ hội tận mắt nhìn anh ae chở nhau dạo phố. Thứ bảy, vẫn chiếc xe ấy, con người ấy trong bộ véc đen tề chỉnh ưu tú ấy có mặt trước cổng cơ quan em để bắt đầu một cuộc dạo chơi khác với một người yêu khác. Không kém đằm thắm, tận tình!

Bà chị họ tới tận nhà nhờ em tìm cách tiêu giúp mấy tờ 500.000 giả. Loại giấy bạc polime giả không khác tờ tiền thật là mấy. Biết rằng tiêu tiền giả là phạm phạm nhưng chị xót của, không nở huỷ nó đi hoặc nộp cho công an. Chị riết róng rủa xả bọn bạn hàng khốn nạn cho chị ôm bom. Năm tờ tiền ngạo nghễ nằm trên bàn như thách đố xem lũ người tham lam ngu xuẩn các ngươi liệu có dám đốt ta đi không hay lại hì hụi tìm ra thủ đoạn mới để đẩy ta vào tay kẻ khác. Chao ôi, thật giả chẳng hoá ra phụ thuộc vào hành xử của mỗi người.

Chị về thì chàng đến. Đắn đo mãi em quyết định lật con tẩy của chàng. Chàng tái mặt, chân ngọ ngoạy dưới gầm bàn.

“ Ngàn lần xin lỗi em, anh bất tài, không bao bọc nổi em. Lấy anh, em sẽ khổ. Em sinh ra để được yêu chiều chứ không phải để làm vợ. Anh không muốn vì anh mà em phải chịu khổ .”

Miệng em đắng ngắt tựa hồ trong đó chứa cả chục quả bồ hòn. Sao những người đàn ông lại giống nhau đến thế, thà họ cứ thẳng thừng mà nói rằng họ không muốn tiếp tục quan hệ yêu đương thì có lẽ sẽ dễ chịu hơn.

“ Cảm ơn anh đã thật lới dù em biết sự thật không hẳn thế. Anh cứ đi đi, đi mà tìm người chịu khổ cùng anh. Duy chỉ có điều… Em mong anh tìm được người thích hợp, thật đấy… Còn nếu như… anh hiểu ý em không… nếu như anh thất bại… Không phải… Nếu như anh không tìm thấy người thích hợp với anh hơn em thì anh hãy quay lại…”

Hai tiếng “ với em ” nghẹn trong cổ họng. Em chợt thấy mình sao mà giống mấy bà bán vải nanh nọc, sáng ra gặp vị khách trở tính muốn đốt vía, rủa xả vài câu cho bõ tức lắm rồi mà vẫn phải nhệch miệng cười giả lả kiểu: Anh cứ đi xem thêm mấy hàng nữa cho yên tâm, nếu không ở đâu có giá rẻ hơn thì quay lại mua cho em đắt hàng anh nhé. – nghĩ tới đó, em bật cười khiến chàng ngơ ngác, hai bàn tay xoắn vào nhau bối rối.

Những tưởng một sự nhin bằng chín sự lành, với người đới còn nhịn được huống chi là số phận của mình. Nhưng số phận vốn đỏng đảnh, mà đời thì đa đoan. Bây giờ thì em nằm đây, cảm nhận từng tế bào đang tê liệt dưới tác dụng của thuốc ngủ, lơ mơ hình dung gương mặt thần chết. Mọi thứ thật nhẹ nhàng khác hẳn với em hôm qua – lòng sôi sục ý định trả thù bọn đàn ông thối tha. Anh ơi, anh tệ cũng đâu kém họ, anh bỏ em mà đi. Em đang theo anh đây, anh có chờ em…

Ngõ Muối ngoắt ngoéo âm u dẫn em vào một căn nhà nhỏ nực mùi hương trầm. Người đàn bà mắt sắc lẹm, miệng ngoen nước trầu nói như người cõi trên, giọng mịt mờ khói.

“ Cô đầy sát khí, đến cửa Thánh làm gì?.”

“ Thưa, biết bà đây là người cao tay ấn có nhiều âm binh, âm tướng. Con đến xin bà chỉ dạy. ”

“ E…hèm, Thánh đâu có cho ta ăn lộc để hại người. Về đi. ”

Len lén đặt tờ giấy bạc 500.000 lên đĩa lễ rồi thắp hương. Bà không nói gì, mắt lim dim nhưng không bỏ sót chi tiết nào. Bà thở dài đánh thượt như sắp làm việc gì nặng nhọc lắm rồi lôi trong rương vải ra mấy đạo bùa và con hình nhân bé xíu được vẽ mặt mày tề chỉnh.

“ Không, lạy cô. Con làm gì có thời gian để theo cách ấy. ”

“ Vậy đến làm gì?. ”

“ Dạ, nghe nói cô biết thuật tìm nhược huyệt trên người bọn đàn ông. Chỉ cần dùng kim châm vào chỗ ấy khi nó đang ăn ở với mình mà không ai có thể phát hiện được. ”

Người đàn bà tái mặt, mắt rỗng…

“ Đàn ông suy cho cùng 10 thằng thì bạc cả 11. Chúng đáng chết cả. Nhưng từ lâu rồi ta không làm thế. Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy. Cô giết hắn rồi liệu đời có hết những thằng đểu không hay rồi sẽ có hàng tá thằng đểu cấp N sinh ra… Với lại, chúng đáng chết chứ không đáng giết. Nhất là khi nó đang ngủ với mình. Hãy cứ nghĩ rằng chúng chỉ là công cụ cung cấp dương khí. Đàn bà không có dương khí sẽ ứ đọng khí huyết mà sinh bệnh. Về đi, cô còn duyên đấy. Đừng tự làm khổ mình nữa.”

Biết là không thể thuyết phục, em đành về. Hắn đang chờ câu trả lời của em. Với sai sót trong hợp đồng mà hắn đã khéo léo giăng bẫy, chắc chắn em sẽ bị sa thải và phải đền bù thiệt hại cho công tình yêu.

“ Anh không muốn em phải chịu khổ. Nghe anh, anh sẽ giúp. ”

Thêm một người nữa không muốn em phải khổ, vậy mà em cứ đâm đầu tìm chỗ khô. Cái số em nó vậy chăng?. Chàng đã lấy vợ. Chàng may mắn vớ được món hàng rẻ như cho. Hắn thì ngược lại. Hắn đụng trúng món hàng đắt tới nỗi chức phó phòng kinh doanh nhiều bổng lộc cùng vô số những mưu toan được thực hiện mà vẫn không mua nổi.

Đàm cưới của chàng, cô dâu khuôn mặt ngời sáng đi bên cạnh chú rể. Em chợt thấy mình rởm đời khi hi vọng về chút tình yêu còn sót lại trong chàng. Chỉ lát nữa thôi, chàng sẽ cùng cô dâu tận hưởng cuộc sống vợ chồng, nói với cô ấy những điều kì quặc đã từng nói vào tai trong hưng phấn. Đàn ông vốn chỉ khác nhau hình thức bề ngoài. Khi ở trên giường, dù tinh tế nâng niu hay hùng hục chiếm đoạt thì họ cũng chỉ có duy nhất một cách ấy để chứng tỏ bản năng. Sao em lại chê chức phó phòng nhỉ?

Cơn đau thắt ngực lan toả làm em quằn quại. Điện thoại reo, em còn muốn sống lắm… Không kịp nữa rồi… Mọi vùng cơ thể căng như có hàng triệu triệu vi trùng ra rả cắn rứt. Em cắn răng, căng người tìm điện thoại… chức phó phòng…những cuộc vui xa xỉ… ánh mắt ngưỡng mộ của bạn bè… Không kịp nữa rồi…

Mà không! Em đang bay, bay đến gần anh, gần lắm. Cõi thiên di thăm thẳm, anh sẽ không bỏ em mà đi nữa. Phải không anh?

 PHẠM VÂN ANH

Chiều ngoại thành

anhhp 10 July, 2011 04:44 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (62) Bản inBản in

Chiều ngoại thành

 

Ào một cơn mưa, rồi bất chợt

Chiều ngoại thành trải rộng bốn bề xanh

Ai rơi guốc xuống giếng làng trong mát

Để một thời tôi hoá chú ếch con

 

Cô gái ấy qua ba mùa lúa chín

Quả cau non thắm quyện lá trầu non

Nhịp cầu tre chung chiêng đôi bạn trẻ

Áo cô dâu tha thướt đường làng...

 

Chú ếch xưa ba năm ra thành phố

Ánh đèn màu xoay điệu vũ ngỡ ngàng

Chiều nay, tìm về nơi xóm nhỏ

Giếng làng đây... chiếc guốc ấy đâu rồi?

 

Mảnh vườn trầu cứ hong hanh nắng

Chùm cau khô lặng lẽ khô thôi

Cỏ vô tình xóa dấu chân người cũ

Mưa tạnh rồi... tôi chịu ướt riêng tôi.

1998

TRẦN HỒNG ÁNH

Một chiều mùa hè… Bloggers Đất Cảng

anhhp 03 July, 2011 12:00 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (55) Bản inBản in

Một chiều mùa hè… Bloggers Đất Cảng

altĐó là chiều chủ nhật 26-6-2011, tại Nhà hàng Phương (phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng), một số nhà văn, nhà thơ và anh chị em bloggers Hải Phòng lại gặp nhau để chung vui và chúc mừng nhà văn Lương Văn Chi - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng - vừa cho chào đời "đứa con tinh thần đầu lòng": tập truyện ngắn Kịch độc (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2011). Tất cả 9 truyện ngắn trong tập sách này đều được đăng trên báo chí văn nghệ Trung ương và địa phương, đều có trên mạng internet. Để hiểu thêm cuốn truyện ngắn này, bạn đọc có thể tham khảo ở trang blog của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, với địa chỉ: http://quochung.vnweblogs.com/post/24285/308425#1433910. Entry này xin giới thiệu một số hình ảnh tại cuộc gặp mặt đông vui và thân mật chiều hôm đó. Ảnh bên trái, từ trái sang phải: Nhà văn Lương Văn Chi, nhà thơ Nguyễn Cường, cùng các nhà thơ - bloggers Bùi Quý Thực, Hoài Khánh, Đinh Thường, Thynguyen81.

altẢnh bên phải: Vừa đi dự cuộc đón tiếp nhà thơ Trúc Chi từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm, nhà thơ Hoài Khánh (trong ảnh, bên trái) cũng kịp trở về chugg vui với anh em bloggers Hải Phòng. Anh cho biết: nhà thơ Trúc Chi từng có 20 năm dạy học tại Hải Phòng. Ông dạy văn khá nổi tiếng thời đó. Nghe tin gia đình ông ra thăm Hải Phòng sau 36 năm xa cách, thầy trò Trường Phổ thông Công nghiệp khóa 1965 - 1968 tổ chức bữa tiệc liên hoan tại Nhà khách Thành phố để chào đón nhà giáo - nhà thơ Trúc Chi. Tham dự buổi đón tiếp này có nhà thơ Hồ Anh Tuấn - nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng - và nhà thơ Hoài Khánh - Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng. Vì diễn ra cùng giờ nên anh Hoài Khánh chỉ dự khai mạc bên đó rồi về bên này. Còn nhà thơ Đinh Thường (trong ảnh, bên phải) phấn khởi cho biết Hải Phòng sắp có thêm Câu lạc bộ Thơ lục bát. Dự kiến Lễ ra mắt Câu lạc bộ Thơ lục bát Hải Phòng vào chủ nhật 24-7-2011 tới. Được biết, trong cuộc sinh hoạt trù bị sáng 1-7 vừa qua, anh Đinh Thường được bầu làm Phó chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ lục bát Hải Phòng. Xin chúc mừng blogger Đinh Thường - Hoa Dã Quỳ!

altẢnh bên trái: Nhà văn Lương Văn Chi (trong ảnh, bên trái) được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho ra mắt bạn đọc cuốn truyện ngắn đầu tay của anh mang tên Kịch độc. Chỉ có 9 truyện ngắn được tuyển lựa trong số những tác phẩm mà anh đã sáng tác trong suốt 30 năm qua. Nhà văn Lương Văn Chi là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng từ năm 1985, hiện ở phố Đội Văn, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Những nhân vật trong từng truyện ngắn của anh như từ chính đời thực bước vào trang văn, bởi vậy, chúng ta tiếp cận với những nhân vật ấy như sự chia sẻ, đồng cảm của chính tác giả vậy. Anh rất cảm kích trước thịnh tình của anh em bloggers Hải Phòng đã cổ súy cho tập truyện ngắn Kịch độc đến được nhiều hơn với bạn đọc gần xa. Còn nhà văn Nguyễn Quốc Hùng (trong ảnh, bên phải) cho biết rằng anh đang viết một bài về Chất xúc tác làm nên "Kịch độc" của nhà văn Lương Văn Chi. Anh Nguyễn Quốc Hùng cứ áy náy là mình không thể dự cuộc vui đến cuối buổi vì phải mau chóng đi làm ca tối từ 18 giờ tại Cảng Hải Phòng. Nhà văn công nhân Nguyễn Quốc Hùng vất vả thật!

Ảnh bên phải: altDù nhà xa đây gần 20km,  nhưng nhà thơ Bùi Thị Thu Hằng cũng đã tới, làm cho nhà văn Lương Văn Chi, Trần Thị Lưu Ly, Nguyễn Quốc Hùng thêm vui. Từ khi tham gia làng blog Việt, blogger Bùi Thị Thu Hằng luôn nhận được sự yêu mến của bà con cộng đồng Vnweblogs. Blogger Thu Hằng nhớ lại một ngày hè nắng nóng đã cùng nhà văn Lương Văn Chi đi suốt mấy huyện ngoại thành Hải Phòng để tặng sách cho bạn bè văn chương. Nhà văn Lương Văn Chi cho biết anh thường xuyên vào đọc kĩ từng dòng trong các trang blog của anh em bloggers Hải Phòng. Nữ doanh nhân mê thơ Trần Thị Lưu Ly thì bảo dù bận rộn đến mấy cũng cố gắng vào đọc và viết góp ý cho các trang blog Hải Phòng.alt Còn nhà văn Nguyễn Quốc Hùng thì cười trừ, đi làm theo ca kíp, có khi nửa đêm mới về, mệt quá, mở mạng ra xem thấy nhiều comments mà không còn sức để trả lời và lang thang đáp lễ. 

Ảnh bên phải, từ trái sang phải: Bùi Thị Thu Hằng, Lương Văn Chi, Trần Thị Lưu Ly, Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Tất Hanh, Vũ Văn Lương, Tuấn Anh, Thynguyen81. Trong số này, đáng chú ý có nhà thơ - hoại sĩ Nguyễn Tất Hanh là người vẽ bìa cho cuốn truyện ngắn Kịch độc của nhà văn Lương Văn Chi. Blogger Vũ Văn Lương hầu như ở cuộc gặp gỡ nào cũng quay phim, chụp ảnh lia lịa và cố gắng đưa nhanh lên mạng để mọi người cùng xem. Nhà thơ Tuấn Anh thì nói ít mà tủm tỉm cười thì nhiều. Chơi blog không siêng năng, nhưng được cái anh viết commens rất chất lượng. Có lẽ anh suy nghĩ lung lắm mới đặt tay lên bàn phím gõ góp ý cho bạn bè bloggers gần xa. Blogger Thynguyen81 (Phạm Thúy Nga) tươi cười gần như suốt buổi, bởi chỉ vài hôm nữa cô được Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng cử đi dự Trại sáng tác văn học trẻ toàn quốc năm 2011 tại Nhà sáng tác Đại Lải (phường Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc).

altẢnh bên trái: Trần Hồng Ánh cụng ly với Nguyễn Cường. Còn nhớ, cách đây 12 năm, vào những ngày hè oi ả, một số cây bút trẻ Đất Cảng đã được Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố  cho thành lập Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng. Tôi là 1 trong số 29 thành viên đầu tiên có mặt ngay từ buổi ra mắt Câu lạc bộ vào chiều ngày thứ năm 29-7-1999. Đến đây, tôi được gần gũi với nhiều gương mặt mà sau này là những hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, như Tuấn Anh, Nguyễn Quốc Hùng, Hoài Khánh, Vũ Thị Huyền, Vũ Thúy Hồng, Bùi Quý Thực, Lê Minh Thắng, Phạm Thị Thùy Linh, Nguyễn Hoàng Lược, Phạm Vân Anh,… Tôi sáng tác còn thua chúng thua bạn, nhưng có lẽ tới đây cũng phải post lên blog một bài thơ sáng tác từ cái thuở lưu luyến ấy cho vui cửa vui nhà. Bây giờ theo nghề thông tin - cổ động, tôi chủ yếu tham gia cổ vũ cho anh em, bạn bè văn chương Hải Phòng. Ngay sau khi được nhà văn Lương Văn Chi tặng sách, tôi đã giới thiệu truyện ngắn Kịch độc và thu hút lượng bạn đọc góp ý đáng kể. Anh Nguyễn Cường thì bảo sẽ thường altxuyên vào đọc và góp ý cho các bloggers Hải Phòng.

Ảnh bên phải, từ trái sang phải: Thynguyen81 lần đầu được gặp nhà thơ Vũ Thúy Hồng, khiến cho nhà văn Lương Văn Chi và nhà thơ Bùi Thị Thu Hằng cũng vui lây... Nhà thơ Vũ Thúy Hồng - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, một cán bộ làm công tác thi đua - tuyên truyền của Cảng Hải Phòng. Nhà thơ Vũ Thúy Hồng có nhiều bài thơ được bạn văn cùng trang lứa nhắc nhớ. Gần đây, Vũ Thúy Hồng còn sáng tác cả truyện ngắn, tản văn, tiểu luận văn học và có nhiều tác phẩm văn xuôi được đăng trên báo chí Trung ương và địa phương. Mới đây, blog Trần Hồng Ánh đã giới thiệu truyện ngắn Năm bông tuy-líp của Vũ Thúy Hồng và được nhiều bạn đọc gần xa tán thưởng. Đến dự cuộc vui, nhà thơ Vũ Thúy Hồng kể lại những kỉ niệm đẹp cách đây hơn hai chục năm trước khi mà Vũ Thúy Hồng còn là Phó chủ nhiệm và chúng tôi đang là hội viên sinh hoạt trong Câu lạc bộ thơ Cung văn hóa lao động hữu nghị Việt - Tiệp, nhắc nhớ đến những cái tên như Đỗ Huy Chí, Ngô Tự Lập, Lưu Quang Phổ,... Chúng tôi cũng nhắc nhớ đến bao kỉ niệm đẹp của một thời Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng và hẹn gặp lại nhau trong dịp kỉ niệm 12 năm Ngày ra mắt Câu lạc bộ 29-7 sắp tới...

TRẦN HỒNG ÁNH

Năm bông tuy-líp

anhhp 26 June, 2011 00:44 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (118) Bản inBản in

altCách đây 12 năm, vào những ngày hè oi ả, một số cây bút trẻ Đất Cảng đã được Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố  cho thành lập Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng. Tôi là 1 trong số 29 thành viên đầu tiên có mặt ngay từ buổi ra mắt Câu lạc bộ vào chiều ngày thứ năm 29-7-1999. Đến đây, tôi được gần gũi với nhiều gương mặt mà sau này là những hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, như Tuấn Anh, Nguyễn Quốc Hùng, Hoài Khánh, Lưu Quang Phổ, Bùi Quý Thực, Lê Minh Thắng, Phạm Thị Thùy Linh, Nguyễn Hoàng Lược, Phạm Vân Anh,… Nhưng phải nói tới một người mà đã giúp tôi gắn kết với anh em làm thơ, viết văn trẻ Hải Phòng ngày ấy. Đó là nhà thơ Vũ Thúy Hồng - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, một cán bộ làm công tác thi đua - tuyên truyền của Cảng Hải Phòng. Nhà thơ Vũ Thúy Hồng có nhiều bài thơ được bạn văn cùng trang lứa nhắc nhớ. Gần đây, Vũ Thúy Hồng còn sáng tác cả truyện ngắn, tản văn, tiểu luận văn học và có nhiều tác phẩm văn xuôi được đăng trên báo chí Trung ương và địa phương. Truyện ngắn sau đây nằm trong số đó…

Năm bông tuy-líp

1.      

Cuối giờ chiều nên khu vực trung tâm đông nghẹt người và xe. Vừa sốt ruột đợi chiếc Lếch xù (Lexus) màu xám bạc phía trước dịch chuyển, anh vừa nhìn đồng hồ. Nếu kịp thì nàng sẽ nhận được hoa và quà tặng trước khi đến vũ trường. Nàng sẽ vô cùng ngạc nhiên về món quà bất ngờ nhân ngày Valentin. Anh cứ tưởng tượng hàng mi rợp của nàng rung lên khi nhìn vào những cánh hoa tươi thắm có xuất xứ Châu Âu và hồi hộp phỏng đoán xem ai là “người hâm mộ” gửi tặng. Tay lái xe “Lếch xù” đứng chọn hoa và trao đổi với cô bán hàng rất lâu khiến anh càng sốt ruột. Lần đầu tiên từ ngày đi ô tô, anh bấm còi inh ỏi. Bực bội nhìn theo cái gáy mum múp thụt vào và chiếc Lếch xù dời đi, anh tấp ngay vào chỗ trống. Bật cửa, rối rít gọi:

- Khẩn trương nhé, anh còn đi họp.

- Anh lại đặt lẵng hoa hội nghị à? Sao không gọi điện! – Cô bán hoa đon đả.

Với chức phó văn phòng phụ trách mảng hành chính, đối ngoại, anh là khách quen của quán hoa đã ba năm nay. Thông thường, chỉ cần một cú điện thoại là 10 phút sau hoa tươi đã có mặt theo yêu cầu. Nhưng lần này, đích thân anh phải ra tay.

- Cho anh đám tuy líp kia nhé. – Anh vồn vã chỉ vào chậu hoa tuy líp mơn mởn để phía trong quán hàng.

- Anh chọn loại khác đi, chậu này có người đặt rồi. Đây, lan mo-ka-da đỏ tươi rói, chỉ mình nhà em có, hàng độc đấy.

- Không, anh chỉ thích loại này thôi. Bỏ qua người ta đi, anh nhất định phải có chậu tuy líp này.

- À, ngày Valentine, anh tặng hoa cho “ma ma tổng quản” nhà anh chứ gì. Thôi được rồi, để em “luộc” lại.

Cô bán hoa chạy sang hàng bên cạnh bê về chậu hoa năm bông giống hệt chậu cũ. Ba bông đỏ, hai bông vàng, những chiếc lá xanh vươn lên như hình chiếc kiếm nhỏ.

- Không được rồi, hình như bông hoa vàng này bị sứt một miếng. – Anh bồn chồn liếc đồng hồ rối thất vọng nhìn chậu hoa.

- Khổ, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, chuyển từ Đà Lạt ra nên không tránh khỏi xây sát một tí. Thôi được rồi, vì anh là khách “víp” nên em đổi cho anh chậu trong quán. Khách kia không kỹ tính như anh. Đây, tuyệt mỹ, hoàn hảo nhé. Nhưng hôm nay hoa đắt đấy. À em tính tiền vào hoa hội nghị cơ quan để thanh toán hóa đơn đỏ một thể nhé.  

- Không, anh trả tiền mặt. Tặng người yêu mà lấy tiền cơ quan thì hèn lắm.

- Anh biết không, ông xã em hai chục năm nay chưa mua tặng vợ cái gì. Cứ vào dịp 8/3 hay Valentine như thế này, càng đắt hàng thì lại càng thấy chồng mình chán mớ đời. Trí thức các anh tinh tế thật đấy.

- Em gửi kèm theo túi quà này đến chị X., địa chỉ cơ quan…, điện thoại… Ngay lập tức, nếu không người ta về mất thì toi công. Không được nói là của ai gửi tặng. Em hứa danh dự đi, nếu không từ mai anh không đặt hoa ở quán của em nữa.

- Vâng, ông nào tặng hoa cũng yêu cầu y như vậy. Em thuộc bài rồi, anh yên tâm. Bí mật, bất ngờ mà.

2.      

Quà anh tặng nàng là lọ nước hoa trị giá một triệu năm chục ngàn. Không hiểu sao cả nàng và vợ anh đều dùng cùng một loại nước hoa của Guess. Lần đầu khi đi công tác ở Đức về, anh ngạc nhiên trước mùi hương thảo mộc ngọt ngào quyến rũ trên áo vợ. Cô ấy giảng giải: “Loại này theo quảng cáo của nhà sản xuất là dành cho những phụ nữ trẻ ưa mạo hiểm và có tâm hồn tự do. Người dùng loại nước hoa này coi trọng các giá trị: sự gợi cảm, sự xác thực, hấp dẫn hợp thời trang và vượt qua các phong tục. Mùi hương này bắt đầu với hương thơm ngọt ngào của táo và quýt. Tâm điểm là mùi hương của đóa hoa Lan Nam Phi đẫm sương và hoa mẫu đơn. Sau đó là sự kết hợp sang trọng và hấp dẫn của hương gỗ và xạ hương”. Không hiểu sao, anh gần như thuộc lòng thông điệp về nước hoa của vợ. Và ở lần thứ hai khi được dìu nàng trong điệu Rumba, anh nhỏ nhẹ nhận xét như vậy. Nàng sững sờ nhìn anh, đôi mắt chớp chớp. Hàng mi rợp khẽ rung khiến anh bủn rủn tay chân. Chao ôi, bao nhiêu năm kể từ khi bước vào hôn nhân, đến giờ anh mới có lại cảm giác bủn rủn ngày xưa như lần đầu tiên cầm tay cô bạn học - vợ anh bây giờ.

Vợ anh là người sống thoáng. Công việc nhập khẩu thiết bị thường xuyên giao tiếp với khách hàng ngoại quốc, một năm đi nước ngoài hai ba lần. Cô không khắt khe trong các mối quan hệ bạn bè của anh. Đến mức, nhiều khi anh ngờ ngợ tìm hiểu xem liệu vợ mình có bạn trai không mà chẳng thấy ghen tuông hay dò xét gì chồng mình. Nhưng chẳng thấy dấu vết nào của sự ngoại tình. Vợ anh công khai mọi mối quan hệ bạn bè hay làm ăn. Máy tính xách tay cũng như máy để bàn ở nhà cài chế độ mở mail mặc định, nhiều khi còn nhờ anh check mail xem hộ thông tin khách hàng gửi.

Anh bắt đầu đi học nhảy từ sáu tháng nay. Đận ấy vợ anh đi Hàn Quốc. Hôm đi họp lớp phổ thông, thằng bạn rủ anh: “5 giờ chiều tao đi học khiêu vũ thể thao ở Sàn Bông Sen, mày đến không? Ồ, cổ hủ vừa thôi, toàn những đối tượng văn minh lịch sự. Mày cứ đến một hôm là mê ngay. Vợ đi vắng như chim sổ lồng còn gì”. Và anh nhận ra rằng những bước nhảy say đắm và cuồng nhiệt của khiêu vũ thể thao (dance sport) mới là đích đến để thỏa nỗi đam mê. Bắt đầu từ hôm ấy, anh thay món cầu lông buổi chiều bằng dance sport.

Nàng đến sàn sau anh một tháng. Lúc nào nàng cũng đi một mình và rất ít nói. Ấn tượng sâu đậm với anh là đôi mắt nâu với hàng mi rợp hay chớp chớp khiến anh cảm thấy nàng luôn bối rối, bẽn lẽn. Anh mời nàng nhảy. Như một nhà diễn thuyết, anh nói với nàng về nghệ thuật vận động cơ thể, về sự hưng phấn, thăng hoa trong điệu nhạc và cái đẹp của ngôn ngữ hình thể khi anh nhảy cùng nàng. Anh bảo rằng giờ đây anh đã không còn cô đơn nữa, rằng niềm đam mê trong anh đã trở lại.

Nàng không hỏi vì sao anh cô đơn, cũng không hỏi anh đam mê điều gì: “nàng” hay “khiêu vũ”. Đôi mắt nàng chớp chớp. Anh biết nàng rung động vì anh. Chắc chưa có ai nói được với nàng về dance sport như anh đã nói. Anh tin rằng nàng nghĩ anh là một người tinh tế và hiểu biết. Anh xin số điện thoại. Anh thường “buôn” với nàng bằng máy bàn cơ quan. Anh được tiêu chuẩn gọi bốn trăm nghìn một tháng. Kể từ khi quen nàng, tháng nào anh cũng bị tài vụ trừ tiền vì quá định mức, nhưng được cái không có dấu tích ở điện thoại di động nên cảm thấy an toàn. Nàng là nhân viên kế hoạch và định mức nên khá rảnh rỗi. Nàng dịu dàng tiếp chuyện anh và luôn “vâng” khi nghe anh nói. Chồng nàng đi tàu viễn dương sáu tháng mới về một lần. Con trai duy nhất của nàng đã học đại học trên Hà Nội. Anh cảm thấy nàng thật cô đơn và tội nghiệp. 

Nhiều hôm vợ đi vắng, anh bật nhạc trong phòng khách và tập nhảy. Càng đến sàn, anh càng thấy cần phải phát triển kỹ thuật khó hơn, phải có sự khéo léo của vũ đạo và rèn luyện thể lực để chứng tỏ khả năng của anh với nàng. Vợ anh chỉ biết anh tham gia dance sport khi xem chương trình dự thi giữa các câu lạc bộ phát trên ti vi. “Em tưởng anh vẫn tập cầu lông”. Cô chỉ nói đúng một câu như vậy. Cô không có phản ứng hay nhận xét gì khi xem anh dìu nàng lướt trên sàn một cách duyên dáng, uyển chuyển và đầy cảm xúc.

3.      

Nàng đến vũ trường hơi muộn. Dáng người thanh mảnh trong chiếc đầm đen pha màu đỏ. Nàng bước vào trong lúc nhạc latin đang rộn ràng. Tay nàng cầm chiếc túi xách đựng quà tặng. Anh thở phào nhẹ nhõm: cô bán hoa đã giữ đúng lời hứa. Nhưng đợi đến vũ điệu Slow Waltz anh mới mời nàng nhảy. Vì chỉ có điệu này anh mới giữ được nàng gần hơn trong vòng tay. Anh tin rằng nàng sẽ dùng nước hoa mà anh vừa tặng. Mùi này ngọt ngào hơn mùi nước hoa cũ. Anh thì thầm với nàng: Hình như em dùng loại Guess By Marciano phải không? “Guess”nghĩa tiếng Việt  là “đoán”. Để anh đoán nhé. Anh cảm thấy sự pha trộn dịu dàng giữa hương bưởi chùm, hương bạch đậu khấu, rượu vỏ cam, lại như phảng phất mùi hoa nhài và kim ngân, nó còn gợi cho người ta cảm giác da diết của xạ hương”.

Nàng sững sờ nhìn anh, mắt nàng không chớp. Lần đầu tiên, anh thấy nàng run rẩy. Anh tin rằng, kể từ giờ phút này anh đã có nàng. Buổi khiêu vũ sau anh sẽ mời nàng đi uống cà phê. Trời ơi, chuyện tình trong mơ của mình đã bắt đầu viết những dòng đầu tiên.

4.      

Vợ anh chưa ăn cơm. “Con Hà ăn trước và lên phòng học bài rồi, nó bảo nhường phòng ăn cho bố mẹ”. Anh bối rối, sợ vợ nhận ra mùi nước hoa Guess mới phảng phất trên áo. Lúc nãy, anh ghì nàng hơi chặt. Dưới ánh đèn chùm màu vàng, vợ anh mặc bộ đầm mới cũng pha màu đỏ đen tương tự chiếc đầm nàng mặc lúc nãy. Cô hơi lúng túng: “Hôm nay Valentine nên hàng Seven A M giảm giá năm mươi phần trăm, chiếc này có sáu trăm rưởi”. Mâm cơm tương đối thịnh soạn. Vợ anh vặn nút bình rượu vang và rót ra hai chiếc ly. Anh cụng ly với vợ. Nhìn qua sắc rượu đỏ sóng sánh, trong đầu anh vẫn còn cảm giác lâng lâng, say sưa như lúc ở sàn nhảy. Tránh ánh mắt của vợ, anh nhìn lướt qua đầu cô về phía bậc cầu thang và thấy một chậu hoa tuy líp năm bông đang rung rinh khoe sắc.

- Anh nói thật đi, hoa hôm nay có đắt lắm không? - Vợ anh nhìn chồng trìu mến, mắt cô ngân ngấn nước trong cảm giác bồi hồi, xúc động. - Em về muộn quá, chỉ kịp chuẩn bị xuềnh xoàng thế này thôi, chả có món mà anh thích.

Anh hốt hoảng. Chết cha, hay con bán hoa xỏ mình rồi, nó mang hoa đến nhà mình chứ không mang đến cho nàng.

Nhưng không, hình như là chậu hoa khác thì phải. Anh chồm lên. Đúng rồi, bông hoa vàng này bị sứt một miếng, anh đã yêu cầu cô bán hoa đổi chậu khác. Đầu anh căng ra, mọi hình ảnh lướt nhanh như một cuốn phim: Chiếc “Lếch xù”, cái gáy mum múp, chậu hoa có người đặt trước... Ra là vậy, hóa ra cô ta có người tặng hoa. Rồi còn lọ nước hoa Guess mới khi đi Châu Âu về... Trời ạ, mình chỉ mải rong chơi một tí, sểnh ra đã có kẻ tấp tểnh nhòm vợ mình. Mà tại sao nhỉ, tại sao người vợ anh tin là đoan chính dường kia lại “có vấn đề” nhỉ. Anh mường tượng ra kịch bản y như khi anh gặp nàng. Anh mường tượng cảnh kẻ khác uốn éo tán tỉnh vợ anh như anh đã tán tỉnh nàng. Anh bê chậu tuy líp đập mạnh xuống đất và hét lên:

- Thằng nào mua hoa tặng cô, nói mau.

Mặt vợ anh đỏ tía:

- Xe ôm mang hoa đến, thế không phải anh mua à?

- Đừng giả vờ, cô tưởng tôi mù à. Thế mà tôi đã nghĩ cô là người chung thủy.

Vợ anh đứng lặng một lúc. Sau đó cô điềm tĩnh lấy cái chổi vun gọn đám đất tung tóe và nhặt những bông hoa nát bét bỏ vào túi rác. Rồi cô khẽ khàng nói, giọng pha chút khinh bỉ:

- Đừng bất lịch sự như thế. Tôi không biết ai tặng hoa. Tôi không quan tâm đến những mớ giẻ rách ve vãn quanh mình. Làm sao mà nghĩ ra thằng cha ngớ ngẩn nào lại tặng hoa cho mình vào ngày Valentine cơ chứ!

Hải Phòng, tháng 2-2011.

VŨ THÚY HỒNG

Đôi bạn

anhhp 18 June, 2011 00:12 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (158) Bản inBản in

altNguyễn Hoàng Lược là một tác giả thuộc thế hệ 7X, sinh năm 1974, là một cô gái trẻ trung và duyên dáng, sinh ra và lớn lên tại thôn Trần Thành, xã An Thọ, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, Nguyễn Hoàng Lược bén duyên với văn chương khá sớm, từ khi chưa đầy 20 tuổi, bắt đầu sáng tác từ năm 1993, và cũng là người có duyên với giải thưởng ngay từ truyện ngắn đầu tay của mình mang tên Trong sương sớm - Giải thưởng văn thơ đầu tiên của báo Hoa học trò năm 1993. Rồi tiếp theo các năm 2001, 2003, 2005, 2006, nhà văn Nguyễn Hoàng Lược đều có truyện ngắn đạt giải của các báo và tạp chí: Truyện ngắn Học trò quê - Giải ba cuộc thi Sáng tác thơ văn xuyên thế kỷ của báo Sinh viên-Hoa học trò năm 2001; Truyện ngắn Mùa sen - Giải nhì (Không có giải nhất và giải ba) cuộc thi văn thơ của báo Sinh viên-Hoa học trò năm 2003; Truyện ngắn Những món nợ - Giải ba cuộc thi truyện ngắn của tạp chí Cửa biển-Hải Phòng năm 2005; Truyện ngắn Phóng sinh - Tặng thưởng trong cuộc thi Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long do báo Người Hà Nội tổ chức năm 2006. Điều đó đã khẳng định phần nào thành công bước đầu của tác giả. Blog Trần Hồng Ánh xin trân trọng giới thiệu một truyện ngắn của Nguyễn Hoàng Lược và mong nhận được sự chia sẻ của bạn đọc.

Đôi bạn

          Lụa đang cặm cụi may nốt những đường may cuối cùng cho chiếc áo sơ my nam màu trắng ngà thì trời đổ mưa. Cô ngơ ngẩn nhìn ra ngoài trời lòng vẩn vơ buồn. Chả hiểu tại sao cứ mỗi khi trời mưa là Lụa lại thấy mình buồn như thế. Cũng chẳng biết cụ thể mình buồn vì cái gì? Tại sao mình buồn cô cũng không lý giải được? Đã bao năm trôi qua cô vẫn an phận sống ở vùng quê yên bình này, trong cái hiệu may nhỏ bé nằm nép dưới tán cây ngô đồng gốc xù xì đầy gai này. Hiệu may của cô không nổi tiếng nên khách ra vào cũng ít. Nhưng cũng lại không vắng vẻ đến mức phải dẹp tiệm để đi tìm một nghề khác. Công việc cứ rải rác đều đều khi nhiều khi ít đủ để cô nuôi sống bản thân mình và giúp đỡ bố mẹ một phần. Đôi khi có những người đàn ông họ đến rồi họ đi để lại trong lòng cô thêm trống rỗng. Cô không hiểu tại sao cô lại không thể yêu ai được nữa sau mối tình với Hoàng. Có lẽ mối tình đầu quá sâu nặng khiến cô không thể quên được hình bóng của Hoàng và luôn thấp thoáng thấy hình ảnh của anh trong những người đàn ông đến sau. Và họ thì không chịu đựng được điều ấy nên đều lặng lẽ ra đi sau một thời gian cố xây mà không nhìn thấy kết quả. Dù nhiều khi Lụa cũng tự nhủ lòng mình phải quên và cô cũng rất cố gắng cùng họ vun đắp nhưng không hiểu vì sao những bức tường tình yêu ấy cứ tự nhiên đổ giống như chuyện vua An Dương Vương xây thành ốc? Mải đắm chìm trong suy tưởng Lụa không để ý thấy một chiếc xe tắc xi chợt dừng lại ngay cửa quán của mình. Một cô gái không còn trẻ lắm nhưng khá xinh đẹp bước  xuống xe. Cô ta bước vào quán nhìn Lụa vài giây rồi ngập ngừng hỏi:

- Chị là Lụa phải không?

- Đúng rồi! - Lụa gật đầu- Nhưng chị là ai nhỉ?

- Con khỉ! Mày không nhận ra tao hả?

Lụa gần như muốn nghẹt thở vì vòng ôm quá chặt của người khách lạ. Cô vẫn không đoán nổi người khách xinh đẹp này là ai mà lại vồ vập với mình như thân quen lắm? Chỉ đến khi khách buông cô ra và hai người đối diện thẳng vào nhau thì cô mới nghi ngờ kêu lên nho nhỏ:

          -  Duyên phải không?

          - ừ tao đây? Hơn mười năm rồi không gặp mày vẫn vậy chẳng thay đổi chút nào ?

          - Còn mày thì đúng là thay đổi một trời một vực… cứ như từ nàng lọ lem lột xác thành công chúa……không ai nhận ra Duyên còi ngày xưa nữa rồi…

          - Còn cô Lụa  thì vẫn vậy! Vẫn má lúm đồng tiền và đôi mắt sâu thẳm có cái nhìn đầy ma lực như có sợi dây vô hình trói chặt các chàng trai khờ dại nào trót nhìn sâu vào đấy ….

          - Vậy mà đến giờ đã trói được ai đâu?

Nghe Lụa nói vậy Duyên ngạc nhiên ;

          - Bạn nói vậy là sao? Vẫn chưa lấy chồng thật à?

          - ừ . Vẫn vậy,  vẫn vườn không nhà trống đấy thôi …

          Duyên đưa mắt nhìn khắp căn quán nhỏ. Không có bất cứ điều gì chứng tỏ nơi đây là một tổ ấm gia đình.

          - Thế còn ông Hoàng đâu? Hai người yêu nhau từ hồi mặc quần thủng đít cơ mà?

          Lụa trầm ngâm:

- Bọn mình chia tay lâu rồi. Giờ người đó đã có vợ con trên thành phố.

- Đúng là thằng Sở Khanh…

- Bạn đừng nói vậy. Chẳng qua tại hoàn cảnh thôi. Dù sao bây giờ người đó cũng là phó tiến sĩ rồi. Làm sao có thể lấy cô thợ may nghèo như mình được. Vợ bạn ấy là con một ông quan lớn đấy. Xinh đẹp và có học nữa….

- Đúng là đồ tham vàng bỏ ngãi. Rồi thế nào lão cũng bị trời quả báo cho mà xem.

-Thôi bỏ đi! Còn bạn sao? Có chồng con gì chưa? Giờ làm gì rồi?

- Chồng con gì sớm cho khổ? Tung tẩy vài năm nữa đã. Bao giờ chán tự do thì xin đứa con về nuôi cho vui cửa vui nhà là đủ…Duyên cười vui vẻ,  nhưng Lụa lại nhìn thấy sau câu nói vô tư của bạn là cả một bầu tâm sự …

Đêm ấy Duyên đã không ngần ngại kể hết với người bạn gái thân thiết của mình câu chuyện  cuộc đời của cô sau khi bỏ làng ra đi vì không chịu lấy người mà cô không yêu dù bị ông cậu tham tiền ép buộc. Lên thành phố ban đầu Duyên làm công nhân cho một nhà máy gia công giầy nhưng rồi cái guồng máy công việc quá quen thuộc khiến cô nhàm chán. Cô theo lớp đại học tại chức và bắt buộc phải đổi nghề để có thời gian đi học. Bạn có biết mình làm gì không? Làm Ôshin đấy. Nghề đó nghe có vẻ hèn hạ chẳng cao sang gì nhưng được cái chỗ ăn ngủ không mất tiền và nếu mình khéo sắp xếp công việc thì có khá nhiều thời gian để học hành. Gặp gia đình chủ tốt bụng thì họ cũng yêu quý mình như con cái trong nhà. Có điều số mình lận đận. Đổi đến sáu chủ mới qua nổi bốn năm đại học tại chức. Sau đó đi làm cho một công ty hoá mỹ phẩm. Ban đầu là nhân viên thôi. Giờ lên phó phòng kinh doanh rồi…

Nghe bạn kể về những khó khăn vất vả nhọc nhằn đã từng nếm trải Lụa thấy phần thương, phần cảm phục cái ý chí luôn biết vươn lên của cô bạn gái thân thiết thủa học trò. Vậy còn buồn vì điều gì nữa đây? ừ thì chuyện tình cảm thôi. Phụ nữ muôn đời là vậy mà. Cứng cỏi đến đâu thì cũng cần một bến đỗ bình yên để nương tựa. Mình và anh ấy quen nhau rất vô tình. Vì công việc mình hay phải vào mạng để tìm hiểu thị trường mỹ phẩm quốc tế. Đôi khi buồn buồn thì vào mạng tán gẫu với những người bạn không quen biết để giải toả lòng mình và chạy trốn bệnh treets. Mình và anh ấy quen nhau qua chát room thôi. Suốt hai năm trời không nhìn thấy mặt nhau nhưng ngày nào cũng nói chuyện nhiều đâm ra trở nên quen thuộc. Ban đầu cũng nổ ghê lắm. Toàn nói dối thôi à. Có nghĩ đến ngày sẽ gặp nhau đâu. Thế nhưng càng ngày càng thấy hợp. Một ngày không gặp là thấy nhớ, thấy thiếu cái gì đó. Rồi một hôm khi mình đang ăn trưa ở quán cơm văn phòng gần công ty thì có một người đến xin ngồi  bên cạnh. Bọn mình vừa ăn vừa nói chuyện xã giao với nhau. Ai mà ngờ đấy chính là anh chàng người tình ảo trên mạng của mình. Anh ta đã đến tìm mình khi vừa ở nước ngoài về. Rồi theo lẽ tự nhiên tình cảm của bọn mình ngày càng thắm thiết. Chỉ đến khi anh ấy dẫn mình về giới thiệu với gia đình thì mọi chuyện mới  không còn phẳng lặng nữa. Gia đình anh ấy là một trong số những nơi đã từng thuê mình làm Ôshin. Giá chỉ có thế thì cũng bình thường đằng này nhà họ là nơi mình phải chịu uất ức nhất vì bị mang tiếng là con ăn cắp, là kẻ quyến rũ chồng người khác.. Dù chuyện chẳng có gì ngoài việc mình có chút nhan sắc và ..anh con rể của nhà chủ có tán tỉnh mình đôi lần. Thế rồi con gái bà chủ mất dây chuyền vàng và họ tìm thấy nó trong va ly quần áo của mình. Chuyện cứ như trong phim khi mình xuất hiện ở nhà họ cùng anh ấy.. Bà chị gái nhảy bổ vào mình gọi mình là con yêu tinh..bà ta xúc phạm mình nặng nề…..Những ngày qua mình thực sự quá mệt mỏi nên đã có ý định từ bỏ tất cả chỉ xin hai chữ bình yên…Mình về đây để chạy trốn tất cả... Lụa im lặng. Quả thật cô cũng không biết nói gì để khuyên bạn lúc này cả. Vì với bản tính quen an phận cô cũng sẽ chọn giải pháp chạy trốn. Nhưng cô không ngờ người mạnh mẽ như Duyên cũng đầu hàng số phận? Cô còn nhớ chuyện Duyên đã từng cắn đứt mấy vòng dây thừng và một thân một mình đội mưa đội gió ra đi bỏ lại đằng sau một cái đám cưới không có cô dâu.. Hồi đó, câu chuyện này đã là đề tài nóng hổi của những người dân quê tại các đầu làng, góc chợ…..suốt mấy tháng trời. Bản tính Duyên là thế. Kiên cường và bất chấp tất cả. Cái gì cô không thích thì đừng hòng ai ép cô được. Còn cô đã thích gì thì cô sẽ làm bằng được. Vậy bạn đầu hàng sao? Biết làm sao được. Có lẽ số mình nó vậy. Duyên thở dài. Từ bé dù là đứa trẻ chịu quá nhiều thiệt thòi nhưng chưa bao giờ cô than thân trách phận. Cha mất sớm. Mẹ bỏ cô cho bà ngoại để tái giá. Ông cậu đã nghèo lại mắc bệnh cờ bạc nên mới mười tám tuổi cô đã bị ép gả cho một tay chủ sới bạc khá giầu có ở làng bên. Bà ngoại cô lấy cả chai thuốc trừ sâu ra để doạ ông con trai bất hiếu nhưng việc làm của bà chỉ dẫn đến cái chết oan uổng của chính bà chứ chẳng ngăn nổi đám cưới gán nợ cờ bạc ấy. Chẳng còn gì níu kéo Duyên ra đi với lời thề không bao giờ trở về cái làng quê nghèo này nữa. Tại sao Duyên lại về vào lúc này? Mình cũng không biết. Sau tất cả mọi chuyện đã xảy ra mình vẫn thấy quê hương là nơi bình yên nhất để mình chạy trốn cuộc đời…Nhỡ ông cậu của bạn lại ép gả cho một gã cờ bạc nào đó thì sao…Lụa nói đùa.  Duyên cười: Đừng có doạ nhau. Dù mình ở xa nhưng thừa biết những chuyện gì đã xảy ra trong thời gian mình đi vắng. Ông cậu của mình đã mất rồi đúng không? Nghĩa tử là nghĩa tận. Ngày ông ấy ra đồng mình cũng về thắp cho ông ấy mấy nén nhang đấy chứ. Có điều lúc mình về đã trời đã tối nhọ mặt người rồi nên không ai nhận ra thôi… Lụa trở mình. Duyên đã chìm vào giấc ngủ. Hơi thở đều đều ấm nóng phả vào mặt cô. Chiếc điện thoại di động để chế độ rung cứ nảy nên từng hồi. Lụa chưa sử dụng bao giờ nên cô định gọi bạn dậy nhưng thấy bạn ngủ ngon quá lại thôi. Lụa cầm chiếc điện thoại định tắt đi nhưng không hiểu cô bấm vào phím nào mà bật ra giọng một người đàn ông cuống quýt, hồi hộp: Em ở đâu thế? Anh tìm em khắp nơi mà không thấy! Em nói đi em đang ở đâu? Về với anh đi. Em nói đi em đang ở đâu? Anh nhớ em lắm. Anh xin em đấy! Nói một câu thôi em. Đừng giận chị anh nữa mà. ...Tự dưng Lụa thấy xúc động và ao ước giá như người đang nói trong điện thoại với giọng nói tha thiết kia là Hoàng của cô?  Anh yêu em lắm. Em có còn yêu anh không? Có còn nhớ anh không? Em nhớ anh lắm! Nói  xong Lụa tự bịt miệng mình. Trong cơn xúc động cô đã buột miệng đáp lời người đàn ông xa lạ thay bạn. Vậy em đang ở đâu? Will you merry me?  Em ở quê anh ạ. Người đầu dây bên kia hình như tắt máy. Lụa tưởng tượng ra cảnh anh ta đang nhảy lên xe máy và phóng như điên ra khỏi thành phố. Bên cạnh cô Duyên vẫn ngủ ngon lành.

NGUYỄN HOÀNG LƯỢC

Kịch độc

anhhp 11 June, 2011 00:05 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (132) Bản inBản in

altNhà văn Lương Văn Chi vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho ra mắt bạn đọc cuốn truyện ngắn đầu tay của anh mang tên Kịch độc. Chỉ có 9 truyện ngắn được tuyển lựa trong số những tác phẩm mà anh đã sáng tác trong suốt 30 năm qua.Nhà văn Lương Văn Chi sinh ngày 23 tháng 10 năm 1955 tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Quê gốc của anh là thôn Mĩ Điền, xã Hoàng Linh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Anh là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng từ năm 1985, hiện ở phố Đội Văn, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Những nhân vật trong từng truyện ngắn của anh như từ chính đời thực bước vào trang văn, bởi vậy, chúng ta tiếp cận với những nhân vật ấy như sự chia sẻ, đồng cảm của chính tác giả vậy. Blog Trần Hồng Ánh xin chuyển tới bạn đọc xa gần truyện ngắn Kịch độc của nhà văn Lương Văn Chi mà chính tác giả đã xếp đầu tiên và lấy tên làm tên chung cho cả tập truyện ngắn này.

Kịch độc

Chiếc gường cót két như tiếng kêu rên quá tải, không át nổi bản nhạc chuông, báo có cuộc gọi đến của chiếc máy di động để ở đầu giường. Buông cả hai tay đang ôm vai người đàn ông nằm trên, một tay với máy di động, tay còn lại, Thuần đặt dọc ngón trỏ vào giữa đôi môi ông ta, ý ra hiệu im lặng để cô đàm thoại, kịp chặn đứng một câu lầu bầu vì bị mất hứng, suýt văng ra từ miệng ông khách.

- Chịu khó chờ em một tý - Thuần khẩn khoản - Ai mà lại vô duyên thế nhỉ, gọi đúng vào cái lúc...!

Tuy không bật loa ngoài, nhưng tiếng nói của người đàn ông trong máy khá rõ, làm cho ông khách nẩy sinh tò mò rồi nằm im.

Như sợ tốn tiền, người đàn ông phía đầu dây bên kia nói gấp gáp:

- Thuần đấy à, bố đây! Tối nay con về nhà ngay nhé! Chú Định đòi bồi thường vết thương đủ 20 triệu mới rút đơn kiện! Chú không thèm nói chuyện với ai trong nhà mình,  kể cả bố, mà chỉ khăng khăng đòi gặp con! Thế nhé, về ngay con nhé!

Ở đầu kia, bố Thuần cúp máy, không để Thuần nói lại lời nào. Thuần thẫn thờ, vất chiếc máy di động xuống giường.

Ông khách, một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, đủ kinh nghiệm cảm nhận được Thuần đang bị “choáng”. Thân thể Thuần lúc này khác gì một cục thịt thiu. Chính bản thân ông ta cũng bị phản cảm. Có cố kỉnh vận động trở lại , thì cuộc vui đơn phương ấy cũng chỉ làm ông thêm mệt. Ông trườn khỏi bụng Thuần, nằm vật ra bên cạnh, cáu kỉnh :

- Sao em không tắt máy?

Câu nói khó chịu của ông khách buộc Thuần phải trở lại công việc. Thuần lật người, áp môi vào má và quàng tay qua ngực ông khách thủ thỉ:

- Em xin lỗi! Chuyện buồn gia đình ấy mà! Cố lên, em chiều...!

- Thôi, mất hứng rồi!- Ông khách ấm ức.

Đối với Thuần, đây không phải lần đầu  tiếng chuông di động vang lên làm gián đoạn cuộc bán mua. Biết vậy, nhưng cô không thể tắt máy, dù điều đó dễ làm khách bực mình. Thường thì, tiếng chuông vang lên có lợi cho Thuần, bởi nó là tín hiệu mà bà chủ quy ước, nhắc cô bằng kinh nghiệm trong nghề, vô hiệu hoá ý đồ kéo dài cuộc chơi của khách, tranh thủ thời gian để tiếp nhận ngay một “ca” mới: một ông khách mới đến đang nôn nao, nhấp nhổm ở quầy bar chờ đến lượt, hoặc chạy sang quán bên cạnh, khi bà chủ bên kia điện sang mượn người vì thiếu tiếp viên.

Ông khách đã ngồi dậy, rời khỏi gường và mặc quần áo. Biết ông này là người hiền lành, mất hứng cũng không quát tháo nhặng xị,  Thuần ngồi dậy theo, ần cần cài giúp ông mấy khuy áo, kéo lại cái thắt lưng da để khuy cài nằm đúng giữa bụng, rồi an ủi:

- Thiệt cho anh quá! Lần sau đến, em bù!

Thực ra, Thuần rất thích những ông khách trung niên, tầm tuổi cỡ bố cô trở lên. Giữa cuộc chơi,  khi khoái cảm đã lên đến đỉnh, họ cũng không ngấu nghiến,  ghì xiết như muốn bóp bẹp cô ra một cách thô bạo như lũ trai trẻ. Thậm chí có người còn cao hứng, “bo” thêm cho Thuần cả một phong bì còn dán kín, vốn là xuất của họ trong những cuộc họp thường xuyên nào đó, mặc dù cô không xin.

Ông khách vuốt lại mái tóc, ngắm nghía cân chỉnh tác phong của mình trước gương rồi giơ tay với chiếc cặp da để trên mặt tủ đầu giường. Thuần vội mở cửa phòng, đặt thêm lên má ông ta một cái hôn, nói vuốt đuôi:

- Nhớ nhé, lần sau đến, em khuyến mãi!

Còn lại một mình, Thuần ngồi tựa lưng vào thành giường, hai bàn tay đan vào nhau ôm lấy hai đầu gối, tập trung ý nghĩ để phán đoán, đặt ra những tình huống mà cô sẽ phải đối mặt với ông chú ruột qua thông tin từ cuộc điện thoại của bố. Không muốn lên quầy bar để nhận tiền “bo”, mặc chăn gối rơi toé loe dưới nền nhà.

Cái việc thằng Tâm em trai Thuần dùng dao rựa chém chú Định hai hôm trước tưởng giải quyết đã ổn. Chính Thuần, khi nhận được tin dữ đã cầm ngay một triệu, vốn là số tiền đi khách gom góp từ đầu tháng đến thẳng bệnh viện chi trả tiền chiếu chụp, khâu vá, bông băng. Thậm chí cả xe tắc xi chở chú Định đi về. Những việc còn lại, như bố Thuần nói, thằng Tâm còn dại, chú cũng như cha, việc trong nhà, chắc chú Định không chấp. Yên tâm, Thuần trở ra phố kiếm tiền.

Ai ngờ bây giờ chú doạ kiện cáo, lại còn ra giá hai mươi triệu bồi thường mới chịu rút đơn. Mà chú thừa biết nhà Thuần, một dạng dân quê kém cỏi, đào đâu ra hai mười triệu để đền cho chú.

Thuần thoáng giật mình. Đã bốn năm, bố mẹ và người làng chỉ biết Thuần ra phố làm công nhân giầy da, một công việc khá hấp dẫn với những gái quê như Thuần. Liệu có phải tháng trước cô cho tiền bố mẹ láng lại cái sân đất lầy lội, mốc meo bằng xi măng cát, thay nền nhà bằng đá hoa Trung quốc và lắp một máy điện thoại cố định. Những chi tiêu đó của Thuần phải chăng đã mách bảo cho mọi người biết rằng: cô làm ra nhiều tiền. Dân quê hay soi mói, mới vài năm đi làm cho một công ty ẩm ương, vài trăm nghìn đồng lương tháng, lại nhỡ việc luôn luôn, Thuần lấy đâu ngần ấy tiền cho bố mẹ làm được ngần ấy việc trong một lúc? Không khéo chú Định đã biết cô ra tỉnh làm điếm, quyết ra tay điểm huyệt, mượn cớ ăn vạ, khăng khăng bắt bố gọi cô về, để cô bịt miệng chú bằng hai mươi triệu. Nếu đúng vậy thì Thuần sẽ tính chuyện với chú sao đây?

*

Chẳng biết may mắn hay vô duyên, chỉ cách thành phố chưa đầy 15 km, làng quê Thuần vẫn giữ được sự yên ả, kiều làng quê Việt Nam mấy chục năm về trước. Cho dù đất nước mở cửa đã lâu, chẳng có một công ty liên doanh liên kết nào tìm về đất này toạ lạc. Mỗi lần về quê, đến gần cổng làng, Thuần thường đạp xe chậm lại. Cô muốn nhìn thật lâu biểu ngữ “Làng văn hoá” chữ vàng nền đỏ căng ngang cổng chào. Chỗ ấy, thời niên thiếu, Thuần cùng đoàn học sinh váy xanh, áo trắng, cổ tung bay khăn quàng đỏ, bước đều trong tiếng trống ếch nhịp ba,  giữa rừng cờ hoa cùng cả làng ra đón biểu tượng cao quý này. Niềm tự hào về quê hương mình còn mãi trong lòng Thuần, nghĩ đến là tim cô đập nhanh hơn, người râm ran như kiến đốt. Chả thế mà mỗi khi  “thấy tháng”, không đi khách được, Thuần thường về quê, tránh được mấy ngày nhộn nhạo của thành phố, giúp đỡ bố mẹ vài việc đồng áng, tích luỹ sức lực, chuẩn bị cho những cuộc vật lộn hai mấy ngày sau.

Thuần dự định, khi kiếm được một số vốn, con người cô đã rạc dài, Thuần sẽ bỏ nghề về quê sinh sống. Dưới luỹ tre xanh làng Thuần là một vùng đất thanh bình, tàng ẩn trong đó là một lớp thợ cày có học, được tôi luyện trong thời kỳ hợp tác hoá, cơ mưu và bản lĩnh.

Ngày Thuần đang học lớp 5, nhân lúc thím Định đi vắng, một bà buôn sắt vụn đi qua. Chú Định gọi vào, chỉ góc vườn khuất sau nhà nói: dưới đất có chôn vỏ nửa quả bom, vốn là cái kẻng thời hợp tác xã quê Thuần còn đang hùng mạnh vào loại bậc nhất tỉnh nhà, chú ăn cắp và chôn tại đó. Chú quơ cành chè rào vạch trên mặt đất một hình chữ nhật rộng cỡ cái chiếu đơn, đánh dấu vị trí, nói:" Nếu tự đào, bán rẻ bằng nửa giá thị trường...!" Tưởng thật, bà sắt vụn cầm cuốc bổ cật lực. Khi đào rộng bằng lỗ huyệt và sâu cỡ hai gang tay, bà chè chai thấm mệt, chống cuốc đứng thở. Bất ngờ, chú Định từ đằng sau xông tới, vật ngửa bà ta nằm gọn trong lỗ vừa đào, một tay lột quần. Cũng may, bà chè chai khá khoẻ, mặc dù nằm dưới bà ta vùng vấy bổ ngược cái cuốc vào mông chú, miệng la làng kêu cứu. Vài  người xúm đến, bà ta được giải thoát. Việc này sau trở thành giai thoại. Bất cứ bờ tre, gốc đa người làng ngồi túm năm tụm ba, thầm thì to nhỏ  với nhau, thỉnh thoảng lại đồng thanh phá ra cười rũ rượi. Chuyện này lan sang các làng lân cận, trở thành nỗi sỉ nhục của họ tộc nhà Thuần, đến nỗi, mỗi khi đến trường, mấy đứa bạn cùng lớp ồ lên: “Đi buôn sắt vụn nào” Thuần đã thấy chạm nọc, liền tìm cớ lủi biệt.

Một thời gian sau, vào lúc nhá nhem tối, chú Định đi ngang qua  bờ dâm bụt của nhà hàng xóm bỗng nghe thấy tiếng nước dội ào ào. Chú vạch bụi dâm bụt nhìn vào: cái nhà tắm được quây tạm bợ bằng cót, thủng một lỗ như cái rá, phơi ra toàn bộ phần kín đáo nhất của thân thể bà hàng xóm. Người rạo rực như phát sốt, hai đầu gối như bị rút gân quỵ xuống, chú lách bụi dâm bụt bò vào. Không may cho chú, con chó lai Nga ngửi thấy hơi người lạ, từ trong nhà phi thẳng ra bụi dâm bụt sủa ngậu lên. Chú Định lồm cồm lùi dần, rồi chạy. Con chó phóng theo đớp một miếng chí mạng vào bắp chân chú, kéo xoạc một mảng quần. Ngày hôm sau, nhìn chú tập tễnh vác cày ra đồng, bà hàng xóm nổi đoá, chõ thẳng vào mặt chú, cứ “Định dê” mà chửi, rồi cho chú ăn no nê, thoải mái, những thứ mà đàn bà, con gái một tháng mới “chiết xuất” ra được một lần. Cái tên “Định dê” bắt đầu từ đó.

Lại một thời gian nữa, cái con điên đầu tóc bù xù dính cả lá bánh, cọng rơm, giấy gói kẹo, quần áo cũn cỡn, rách tua rua như bị cá rô đớp, phơi ra cái rốn lồi, đen và nhăn nhúm như quả dưa cà phơi nắng, ngày ngày xin ăn ở chợ làng, tối về thì chui vào miếu thổ thần để ngủ, bỗng mang thai. Nhiều người phát hiện dạo này chú “Định dê” lại sắm đèn soi ếch., đêm đêm thường đi về hướng miếu, cả những đêm không mưa. Người làng lại túm năm tụm ba, bàn tán xôn xao tác giả bào thai đích thị là chú Định của cô.

Cái  máu chơi gái kiểu “ma bùn” của chú Định có đất dụng võ, khi cái thị trấn cách làng Thuần hơn cây số mọc lên  mấy quán karaoke  và thư giãn đấm lưng, thực chất là những nhà chứa trá hình nhằm phục vụ cho con em nông dân các làng lân cận. Để phỉ chí tang bồng, chú Định bỏ ruộng lên thị trấn thuê nhà, bên ngoài bán nước, bán đề,  bên trong mở mấy chiếu bạc cho các cụ trong Hội người cao tuổi thị trấn có nơi kín đáo mà sát phạt nhau sau những cuộc hội họp để thu hồ. Có tiền, chú thả sức ăn chơi. Mấy chục ả ca-ve của những quán quanh đó chú đã “xài” hết. Thèm “hàng” mới, một tuần đôi ba lần chú phóng xe ra thành phố, vô tình mò cả đến quán Mỹ Duyên, nơi Thuần làm gái từ ngày ở quê ra.

Một lần, sau khi đi khách xong, cô cầm tiền bo định đi lên quầy bar thanh toán với bà chủ, bỗng Thuần khựng lại bởi tiếng nói ngàn ngạt của người bị bệnh hen mãn tính nơi phòng chính. Qua cửa sổ, Thuần thấy chú Định đang ngắm nghía, bẹo má mấy chị em cùng làm. Mặt Thuần hết máu, trắng bệch, thân thể nhũn ra như cây mùng héo. Cô nín thở, lùi vội vào cái buồng bỏ không, nơi chứa mấy cái gường gãy và máy bộ đệm rách. Chờ cho chú Định đưa gái vào phòng, Thuần mới lẻn ra, nói dối bà chủ quán là có việc gấp, rồi dắt xe phóng thẳng về nhà trọ, nghỉ hẳn, không dám bén mảng đến quán Mỹ Duyên cả ngày hôm đó.

Rất may cho Thuần, mấy ngày sau đó, xới bạc chú Định bị công an phục kích bắt quả tang. Ngoài nợ nần chồng chất, chú phải chịu cái án phạt tù một năm rưỡi. Con đường ăn chơi trác táng của chú Định tạm thời khựng lại.

Ra tù, chú Định đi thẳng về nhà mình, ngủ đẫy một đêm. Sáng hôm sau chú lấy ở góc bếp một con dao rựa đã han rỉ. Chú mang ra bờ ao, nơi có cái thớt trên của cái cối xay bộ bị vỡ vẫn dùng làm đá mài, hùng hục mài suốt một buổi sáng, cho đến lúc sáng loáng mới thôi. Chú xách dao đi thẳng sang nhà Thuần, đứng sững giữa cửa, trong lúc bố Thuần đang ngồi bên bàn nước, tuyên bố một câu xanh rờn:

- Việc chia đất của các cụ ngày xưa là bất hợp lý. Không lẽ nào vì cái chuyện anh chui ra trước tôi,  đã được ở phía ngoài lại còn được thêm 20  mét bờ tre chạy dọc đường làng. Tôi lấy lại năm mét để mở cái quán kiếm ăn.

Chẳng đợi bố Thuần đồng ý, chú Định đi thẳng ra bờ tre, xắn tay áo vung dao như múa. Cành tre, lá tre bay tơi tả như gặp gió to.

Dù hiền lành, bố Thuần cũng không thể nào chấp nhận được sự sấc xược vô lối của thằng em trai. Ông nhào ra bờ tre, đứng chặn trước mặt chú Định, quát lên :

- Dừng tay!

Không đếm xỉa đến lời ông anh, con dao trong tay chú Định vẫn vung lên, hạ xuống liên tục, ánh nắng lấp loá phản chiếu từ con dao như nhảy múa, như trêu ngươi bố Thuần.

Biết tiếng quát của mình không đủ uy lực chặn tay thằng em ngang ngược, bố Thuần lựa thế nhảy vào, dùng cả hai tay nắm chặt cổ tay cầm dao của chú. Hai bên giằng co xô đẩy nhau, cuối cùng con dao rơi đánh “keng” xuống đường làng bê tông, vừa lúc thằng Tâm đạp xe về.

Nhìn bờ tre bị chặt nham nhở, nhìn cái ngõ ngổn ngang những tay tre, nó hiểu chuyện gì đã xảy ra.  Hất xe đạp vào bờ tre, nó nhảy tới,  trong lúc chú Định  đã gỡ tay cầm dao của mình khỏi tay ông anh.  Một tay túm chặt cổ áo bố Thuần, tay kia co lại, dùng miếng võ điêu luyện chú học được trong tù,  thoi một quả đấm chí mạng vào mặt ông anh.  Máu mũi, máu mồm bố Thuần ộc ra.

Thằng Tâm chụp con dao dưới đất, nhảy đến chỗ hai người, vung lên, quát:

- Buông bố tôi ra !

Đang say máu, chú Định co tay, định bồi tiếp cho ông anh một đấm nữa. Không may, bắp tay phải của chú lúc thu về bén đúng lưỡi dao mà thằng Tâm vừa dứ. Một mảng áo rách toạc, một mảng thịt bắp tay bị lật, máu đỏ túa ra.

*

Thuần về đến nhà lúc trời sập tối. Cô cẩn thận dắt xe đạp vào góc nhà rồi ngồi xuống mé gường kê bên cửa sổ, vốn là chỗ ngồi thân quen từ ngày còn thơ ấu. Cô thường ghé môi qua song cửa trêu chòng chú Định, mỗi khi chú ra ao rửa rau.

Thấy Thuần về, khuôn mặt dúm dó của bố Thuần như nở ra, lấp lánh nét vui mừng vì đã có cứu tinh. Nhìn đôi vai gày trong lần áo mỏng của con gái cứ dướn lên sau mỗi lần thở gấp, ông không vội nói ngay, mà chỉ ngồi bên bàn lẳng lặng nhìn Thuần. Chiếc điếu cày dựng nghiêng trong cái thùng sơn cũ xoay đi xoay lại bởi mấy đầu ngón tay ông. Cuối cùng ông vo viên một điếu, ấn vào lõ rồi bật lửa. Khói thuốc còn vẩn trước mặt, ông húng hắng ho vài tiếng, ề à:  

- Con Lan xóm trên, bạn học với mày, đẻ đứa thứ hai rồi đấy! Lại con trai !

Câu nói của bố có hàm ý nhắc nhở đến duyên phận của Thuần không đạt hiệu quả mong muốn và làm rối thêm những suy nghĩ trong lòng cô. Thuần bực mình cấm cảu:

- Bố nói chuyện ấy ra lúc này làm gì!

Bố Thuần ớ ra, mặt tóp lại. Cái yết hầu như củ ấu trên cần cổ nhăn nhúm chạy lên tụt xuống rối loạn trước phản ứng của con gái. Biết mình lỡ lời, cô đưa mắt lấm lét  nhìn bố đang dùng bàn tay đen đúa, lúng túng đưa lên xoa cằm, cô bỗng chạnh lòng. Đã không biết bao nhiêu lần, Thuần dùng bàn tay của mình giữ chặt bàn tay của những ông khách, không cho họ tiến sâu hơn nữa  trong lúc họ đang cuồng dại. Những bàn tay mịn màng và mềm dẻo biết bao, khác hẳn bàn tay chai sần của bố cô. Cũng là đàn ông, nhưng so với họ, bố cô cả đời chỉ biết lội ruộng, ngoài mẹ Thuần, không biết đến người đàn bà nào khác. Thuần  muốn chạy đến ôm lấy bố mà gào lên một tiếng thật to : “ Bố ơi !”.

Thuần sẽ sàng hỏi bố như chuộc lỗi:

-  Chú Định đòi con sang hả bố!

-  Ừ! Chú ấy không thèm nhìn mặt bố mày, không thèm nhìn mặt ai trong nhà này. Đào đâu ra hai mươi triệu bây giờ hả con!- Bố Thuần rên rỉ.

 

Thuần băn khoăn:

-  Sao lại phải là con? Việc này là việc của cha chú cơ mà!

-  Bố cũng không hiểu!- Ông ngập ngừng- Hay chú biết mày làm công nhân giày da lắm tiền...!

Thuần cười khẩy, đưa mắt nhìn ra mảnh sân tối thui, rồi lặng lẽ quay vào, ngước mắt nhìn lên bàn thờ gia tiên. Một lá trầu héo quắt rũ xuống, quặp vào miệng đĩa đựng hoa quả. Thuần len lén đi đến, cô dùng khăn lau mặt ban thờ, rồi kính cẩn thắp ba nén hương. Khi các đầu hương đã cháy đỏ, cô quay lại hỏi bố, giọng thăm dò: 

-  Thím Định và hai em Linh, Huyền không có ý kiến gì sao?

Bố Thuần chép miệng:

-  Thì mày cũng biết rồi đấy! Chú ấy đã làm gì, vợ con đố dám ho he. Ngay như việc bỏ ruộng lên thị trấn thuê nhà dạo trước...

Lặng đi một lúc như dành thời gian cho Thuần định liệu, bố Thuần ngần ngừ:

-  Tối nay thím và hai em lại về ngoại có giỗ...

Thuần ngẩng đầu nhìn bố một lần nữa rồi dứt khoát:

-  Thôi được, con sang!

Thuần quầy qủa đi thẳng ra ngõ. Đến cổng nhà chú Định, cô ngập ngừng dừng lại, ngửa mặt nhìn lên nền trời quê tối đen như bùn, lẳng lặng hít một hơi thật sâu, rồi kiên quyết đẩy cổng bước vào.

Chú Định đứng sững giữa nhà, không để Thuần kịp chào hỏi, chú gầm lên:  

-  Mày được lắm! Đã thế thì tao nói thẳng. Giữa tao với gia đình nhà mày từ bây giờ không còn anh em, chú cháu,  máu mủ ruột rà gì hết! Nó chém tao gần lìa cánh tay ra thế này -  chú Định giơ cánh tay băng bó vào mặt Thuần, rồi ông ta cúi xuống gầm bàn, cầm lên một vật dài bọc ngoài bằng một tấm giẻ rách bẩn thỉu. Ông ta bỏ tấm giẻ, cầm con dao rựa dí thẳng vào mặt Thuần:

- Tang chứng đây! Muốn cứu nó khỏi tù thì “nôn” hai chục triệu ra!

Bị đòn phủ đầu, mặt Thuần tái dại, đôi môi hồng đổi sắc nhợt nhạt, mấp máy định phân trần vài câu thì người chú giơ cánh tay còn lành xua lia lịa:

- Khỏi trình bày! Tao thừa biết mày có tiền, nhiều tiền là khác! Cả nhà mày, cả làng này chỉ biết mày làm công nhân giày da, nhưng tao biết mày ra tỉnh làm điếm. Mỗi ngày tiếp hàng chục khách, kiếm mấy trăm nghìn...Có thế mày mới có tiền sửa nhà, lắp điện thoại cho bố mày chứ!

Thế là đã rõ. Cái điều mà Thuần nơm nớp lo sợ bấy lâu đã được nói ra từ miệng chú cô. Hẳn rằng những lần đến chơi gái ở quán Mỹ Duyên, dù cô đã trốn và đã thay tên đổi họ ngay từ lúc vào nghề, vẫn không sao thoát khỏi sự tinh ma và bề dày kinh nghiệm ăn chơi của chú mình. Nó như một đòn chí mạng, đập tan hy vọng của Thuần hòng bám víu vào tình chú cháu, máu mủ mà giải cứu cho thằng Tâm khỏi tù và cô khỏi mất tiền. Chú đã biết Thuần làm điếm, vậy mà chú còn nhẫn tâm và đểu cáng cướp lại những đồng tiền nhơ nhớp ấy của cô. Thuần lảo đảo quỵ xuống. Phản xạ tự nhiên như những ngày đầu đi khách còn xấu hổ, cô giơ cả hai bàn tay lên che mặt, gào lên, khản đặc:

-  Chú ơi!...

Chú Định cong người, giơ cánh tay lành giật phăng hai tay đang ôm mặt của Thuần, chỉ vào mặt cô xỉa xói:

- Mày vừa sướng, vừa được tiền, thì mày phải biết tiêu tiền đúng miếng- Chú Định dằn giọng, tiếng nói rít qua kẽ răng - Mày chi ra, không thiệt đâu! Ngoài việc cứu em mày khỏi tù, tao thề sẽ giữa kín, không hé răng để một người nào làng này biết mày ra tỉnh làm phò! Sướng chưa, nhất chi lưỡng việc, còn gì!

Thuần bị điểm huyệt. Cô ệp xuống, dúm dó như một con gà nhép dưới bóng tối của đôi cánh con diều hâu từ trên cao chớp xuống. Cái điều cấm kị, tuyệt đối cấm kỵ, hòng giữ thể diện cho bố mẹ và dòng họ mà cô ém nhẹm trong dối trá mấy năm nay, không khéo bị ông chú ruột lật tẩy, phô bày ra giữa làng nước. Trong cái mười phương của đời làm đĩ, cái phương duy nhất còn để lấy chồng, có nguy cơ bị người chú vô lương tâm đóng lại. Thuần đang trở thành vật hy sinh cho một chuỗi sai trái mà những người ruột thịt với cô gây ra, và đích thân chú ruột tống tiền Thuần, những đồng tiền mà ông chú quý hoá của cô cho là từ sướng mà ra.

Ôi, chú của cháu ơi! Đâu rồi cái ngày cháu học vỡ lòng, chú hớn hở khoác lên người cháu cái áo phin hoa cổ cánh sen, mua bằng tiền bán lứa rau đầu tiên trong vườn nhà, rồi bồng cháu lên vai, đi nhông nhông trước con mắt ước ao, thèm muốn của những đứa trẻ cùng lớp...

Cô ngẩng đầu nhìn thẳng vào mặt người chú như tìm lại gương mặt ngày xưa. Dưới ánh đèn vàng quạch, khuôn mặt chú Định xù xì, nham nhở với mớ tóc dựng đứng, tựa gốc cây bị bật bên đường.

Lo sợ đến đắng họng làm cô như tắc thở. Thuần trợn trừng nhìn chú Định đang lồng lộn như một con sói mà nước mắt cứ tràn ra trên má. Trời ơi, lẽ nào như thế! Đành rằng là người, Thuần phải kiếm tiền, nhưng chỉ bằng cách của mình thôi, không làm hại ai khác. Còn đây: người chú đáng phải kính trọng của cô lại kiếm tiền bằng cách đánh trúng điểm yếu của người thân, của con cháu. Vì tiền mà chà đạp cả tình cả nghĩa, thậm chí đến vô nhân như thế này!

Không! Không thể nào như thế! Chút hy vọng yếu ớt ngọ nguậy trong lòng Thuần, làm sáng rõ một dự định trắc nghiệm về sự còn mất của tình ruột thịt trong con người chú Định, mà cô manh nha từ lúc ngồi một mình trong cái phòng của quán Mỹ Duyên. Thuần cũng linh cảm được kế hoạch mà cô vạch ra để đối phó với chú Định là cực kỳ nguy hiểm, bởi con người bạo dục và thành tích bất hảo của chú. Nhưng mặc,  cư phải hành động đã! Nếu chú Định thực sự súc vật, cô sẽ tự giải cứu mình, không bao giờ để việc ấy xảy ra. Hất thẳng mớ tóc rũ rượi bết nước mắt ra sau gáy, Thuần vụt đứng dậy, sấn đến trước mặt ông chú. Là phụ nữ, nếu buộc phải đánh trả sự vô nhân, thì nên dùng biện pháp vô loài!

Cách người chú cỡ bước chân, Thuần dừng lại, đầu cúi xuống, hai bàn tay chắp trước ngực, cô thẽ thọt:

-  Chú ơi! Cha cháu nghèo hèn, chúng cháu bé dại tội nghiệp, cầu xin chú nghĩ lại...

Không để cô nói hết, chú Định trừng mắt:

- Im đi, khỏi nhiều lời! Tao nói rồi! “Nôn” hai mươi triệu ra đây!

Thuần rên rỉ:

- Nhưng chú biết rõ mà, những đồng tiền của cháu...

- Mặc mẹ mày, tao không cần biết! Tiền nào cũng là tiền. Có chịu “nôn”  ra hay không thì bảo!

Biết có cầu xin thêm nữa cũng vô ích, nỗi cay đắng đầy đến mức không còn chỗ chứa, Thuần đảo mắt quét một cái nhìn lên thân thể chú Định, cái nhìn nghề nghiệp, dùng mắt sờ nắn và đoán định chính xác độ cứng mềm của người khách lạ lần đầu tiên vào phòng với cô, trước khi họ trút bỏ quần áo. Việc ấy với Thuần quen rồi, cô chưa hề ngán bất cứ một loại đàn ông nào, từ những ông trọng lượng cơ thể nặng ngót một tạ, toàn thân thơm phức mùi rượu Tây hảo hạng, đến những thằng nghiện còm nhom, hôi hám, cả lưng, bụng, chân, tay xăm trổ vằn vện đầy những hình rắn, rết, chồn, cáo, hổ, báo, đại bàng. Thuần đổi giọng, nói rành rọt:

- Được, ông nói thế, rõ rồi! Nhưng tôi vẫn chưa tin là ông đã tuyệt tình!

Không để chú Định kịp phản ứng, Thuần bồi tiếp,  như cảnh báo với chú, đối thủ của ông ta là ai:

- Tôi làm điếm là đã tuyên thệ với mình, chấp nhận đàn ông toàn thế giới. Già, trẻ, lớn, bé, da đen, da trắng, da đỏ, da vàng. Sẵn  sàng xuyên lục địa bán thân! Còn ông, đẹp tốt nỗi gì! Từ ngày đất nước mở cửa, ông sa đoạ trác táng, không từ một loại đàn bà nào, thậm chí con điên ở chợ ông cũng không tha, trở thành một loại đĩ đực, chơi gái thành thần!

Phóng những tia mắt rực lửa như muốn thiêu cháy ông chú đang loạng quạng, chao đảo,  quờ tay ra sau tìm cây cột để dựa lưng, Thuần đưa tay luồn vào áo ngực, rút ra quyển sổ tiết kiệm, quẳng lên bàn, chỗ sáng nhất:

- Đây là  hai mươi triệu! Cộng với lãi suất sáu tháng của ngân hàng!

Chú Định chộp vội quyển sổ, đưa lên sát mắt kiểm tra.

- Để có nó - Thuần gào lên - Ông có biết tôi phải vần trên bụng bao nhiêu thằng không? - Thuần vung tay xoè cả năm ngón trước mặt người chú - Năm trăm thằng! Ông biết đếm chứ, năm trăm thằng! Gấp đôi đàn ông cái làng này!

Không để người chú cảm nhận hết tầm con số, Thuần hạ giọng, dõng dạc:

- Tôi sẽ viết giấy uỷ quyền! Nó là của ông với điều kiện: ông chứng minh được chúng ta là người dưng!

Bằng một động tác thuần thục, trong tích tắc, toàn bộ quần áo trên người Thuần tuột xuống đất, loã lồ thân thể trẻ trung với bộ ngực đầy đặn của cô. Chỉ một bước, Thuần lên giường, nằm ngửa,  khép hờ đôi mắt u buồn bên sống mũi thẳng và cao như mũi Đức Mẹ, rồi duỗi thẳng cặp giò trắng như ngó cần ngay cạnh người chú đang đứng chết trân, hất hàm:

- “Của lạ” đấy! Chứng minh đi!

Chú Định ngây ra, không hiểu đứa cháu gái định giở trò gì. Sau hiểu ra mới biết mình đã lâm vào một tình huống khốn nạn. Mọi kế hoạch vạch ra để tống tiền bị Thuần bẻ sang hướng khác, đặt ông ta vào một tình thế trớ trêu. Toàn thân ớn lạnh, chú Định luống cuống lùi lại, suýt ngã ngửa, may có cái bàn chặn lại phía sau. Nhiều lần đứng trước những người đàn bà khoả thân do mua được, hay “chim” được, khi họ đã nằm trên giường, ông ta bình tĩnh và lọc lõi thoả mãn nhục dục của mình, không chút do dự. Còn bây giờ, cái thân thể trắng trẻo đầy ma lực kia là cháu ông.  Liệu có nên không khi mười tám tháng trong tù, ông ta luôn phải thủ dâm? Hai mu mắt sụp xuống, chú Định vuốt một cái nhìn trộm lên thân thể Thuần: Đây có phải là “bữa tiệc” mà ông trời đền bù cho hơn năm trăm ngày “thiếu đói” của ông ta hay không?

Như đọc được ý nghĩ trong đầu ông chú, Thuần nheo một bên mắt, khẽ nhéch môi kiểu nửa miệng, nét mặt hết sức khinh nhờn:

- Sao, không dám bước qua ngưỡng à!  Bản lĩnh người hùng của một thời soi ếch đâu rồi!

Chú Định đảo mắt nhìn vội ra sân. Thuần giục:

- Làm đi, được hai thứ đấy! Nhất chơi lưỡng lợi. Đại lộc còn gì!

Câu nói đểu cáng mang đậm tính chuyên nghiệp kiểu đĩ điếm thị thành, sặc mùi thách đố, cá cược  của đứa cháu gái như mũi dao sắc lạnh đâm suốt vào trái tim tự tôn bề trên vẫn còn trong tiềm thức của người chú. Mặt ông nóng bừng, hai má co giật, toàn thân ông run lên, đôi môi dày mím chặt, mắt long lên trắng dã, hai tròng mắt trồi ra như hai viên đạn sắp bay ra khỏi nòng súng. Cái con nhãi ranh trời đánh thánh vật không chết,  nằm thưỡn trên giường kia, mới có mấy năm ra tỉnh, lăn lộn,  vật vã giữa trường đời, đã kịp trang bị trong mình một loại vũ khí là một chất kịch độc.”Mượn gió bẻ măng”. Ông những tưởng âm mưu của mình đã thâm độc, nhưng so với nó,  chất độc của ông ta chỉ như nọc của con ong so với chất độc của con bọ cạp!

Vứt “bẹt” quyển sổ tiết kiệm vào mặt Thuần, chú Định cúi xuống, bốc nắm quần áo ném thẳng vào người cô.Tiện tay ông vớ cái điếu cày dưới chân bàn, vung ngược lên trước mặt Thuần, nước điếu òng ọc đổ xuống nền nhà, hôi khai nồng nặc.

- Cút! Cút ngay. Cút khỏi nhà tao! Đồ con...

Nắm chặt trong tay quyển sổ tiết kiệm, Thuần ấp vội mớ quần áo lên ngực, xộc xệch vọt ra khỏi giường. Đến bụi tre cô còn nghe tiếng  chiếc điếu cày nhảy côông côông trên nền sân gạch. Ngấm độc, chú Định gào lên, tiếng gào đau đớn, ê chề,  vang vọng trong đêm tối giữa làng quê thanh bình.

*

Sáu giờ sáng bố Thuần mới lay cô dậy. Tối qua khi thấy con gái thất thần chạy như ma đuổi từ bên chú Định về nhà, leo lên giường trùm kín chăn khóc dấm dức, dù gạn hỏi thế nào cũng không nói, ông đành bấm bụng  chờ đến sáng nay. Biết Thuần còn ngái ngủ, ông không hỏi ngay. Cả hai cứ ngồi trên giường nhìn qua cửa sổ quan sát nhà chú Định. Có tiếng kẹt cửa, chú Định từ trong nhà đi ra bờ ao, cánh tay lành xách con dao rựa sáng trắng. Bố con Thuần nghẹt thở. Họ không hiểu chú Định sẽ giở trò gì nữa. Đến bờ ao, nơi có hòn đã đá mài vốn là nửa thớt trên của cái cối xay bột bị vỡ, ngày xưa vẫn dùng xay bột cho đám trẻ của hai nhà, chú dừng lại rồi lẳng lặng phi con dao ra giữa ao. Một tiếng “chút”, con dao cắm xuống nước  theo cạnh dọc. Mặt nước loang ra vô số vòng tròn rồi yên tĩnh trở lại.

Chú Định lẹp kẹp lê dép quay vào nhà. Bố Thuần thở một hơi dài rồi quay sang cô thầm thì:

- Hôm qua con thưa chuyện với chú thế nào mà bố thấy như việc đã xong. Con cứ đi làm kẻo muộn, người ta lại đuổi việc! Thời buổi này, ở ngoài phố, có được việc làm như vị trí của con là quý lắm đấy!

Trại sáng tác Đại Lải, tháng 8-2007

LƯƠNG VĂN CHI 

Những bông phượng đỏ trên bến Nhà Rồng

anhhp 05 June, 2011 00:00 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (94) Bản inBản in

Người Hải Phòng có mặt ở Sài Gòn tự bao giờ? Là những người khai phá mở đường cách đây vài trăm năm? Di cư thời loạn ly? Những đôi chân mài mòn đá Trường Sơn? Những cánh tay kéo chão săn cả sóng biển trên tàu không số? Hay những chàng trai cô gái hăm hở ra đi lập nghiệp ở trời Nam… Dù là 10 năm, 100 năm hoặc lâu hơn nữa, thì họ vẫn vậy, cái bản tính “ăn sóng nói gió” vẫn làm lên một phong cách riêng giữa thành phố mang tên Bác… Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2011), Blog Trần Hồng Ánh xin giới thiệu bài ghi chép của Lê Minh Thắng vừa kết thúc chuyến công tác tại TP Hồ Chí Minh trở về Hải Phòng.

Những bông phượng đỏ trên bến Nhà Rồng

altBuổi sáng ngày 28-5-2011, Hội trường Yasaka Bảo Trân nằm liền kề thương xá Tax tại số 135 đại lộ Nguyễn Huệ, vỡ òa dưới cái nắng tênh tang của thành phố Hồ Chí Minh. Hơn 200 đại biểu đại diện cho 21 chi hội thuộc Hội đồng hương Hải Phòng hẹn nhau về gặp mặt. Địa điểm sang trọng bậc nhất, tại khu vực trung tâm nhất, của thành phố lớn nhất cả nước đã đủ nói lên sự cầu thị, nhưng dường như vẫn còn khiêm tốn so với tình cảm nồng nàn, của những người con đất Cảng từ hai miền Nam-Bắc mang đến. Lại thêm một ý nghĩa lớn lao nữa, rằng cách đây vừa đúng 100 năm, tại miền đất này Bác Hồ rời Tổ quốc bằng con tàu Amiral Latouche Tréville, vượt qua sóng gió trùng khơi của năm châu bốn bể, tìm đường giải cứu dân tộc khỏi ách lầm than nô lệ. Ý nghĩa ấy được ông Đỗ Ngọc Núi-Phó chủ tịch thường trực của Hội nhắc đến đầy tự hào

Dù hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử với những thế hệ, hoàn cảnh khác nhau, nhưng nhiều năm qua đồng hương Hải Phòng tại TP Hồ Chí Minh đã gắn kết thành một cộng đồng thắm đượm tình nghĩa, cùng giúp đỡ nhau tạo dựng sự nghiệp ở miền quê mới. Hướng về cội nguồn, họ luôn tích cực tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội của Hải Phòng. Nhiều doanh doanh nhân đã trở về quê hương đầu tư phát triển, mà điển hình trong đó như Khu du lịch quốc tế Hòn Dáu của doanh nhân Hoàng Văn Thiềng, Khu đảo nhân tạo Hoa Phượng thuộc tập đoàn DASO của doanh nhân Đặng Ngọc Hòa… Riêng thời gian từ 2010 đến nay, Hội đồng hương đã đóng góp vào công tác xã hội từ thiện của Hải Phòng gần 1,92 tỷ đồng, tham gia nhiều chương trình khác của thành phố.  

Vốn dĩ là một cuộc gặp thường niên, nhưng có lẽ chưa lần nào ngày hội của những người đồng hương xa quê lại rộn rã như lần này. Đoàn đại biểu đến từ Hải Phòng do ông Nguyễn Văn Thành - Ủy viên TW đảng, Bí thư Thành ủy dẫn đầu. Cùng với Chủ tịch HĐND TP Nguyễn Văn Thuận, Phó chủ tịch thường trực UBND TP Đan Đức Hiệp, đại diện lãnh đạo các ban ngành, quận huyện và cơ quan báo chí của thành phố... Trong số những đại biểu danh dự còn có bà Nguyễn Thị Thu Hà - Ủy viên TW Đảng, Phó bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, ông Trần Quốc Huy - Ủy viên TW đảng, Bí thư tỉnh ủy Đắc Nông… Trên ghế ngồi của các chi hội đồng hương, xuất hiện gương mặt của cụ bà Nguyễn Thụy Nga (tức Bảy Vân), phu nhân cố Tổng bí thư Lê Duẩn, nguyên Ủy viên Ban Biên tập báo Hải Phòng. Rồi cả những người từng gắn bó với Hải Phòng như ông Trần Chí Đáo - nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo, Phó giáo sư tiến sĩ Lê Bửu - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục thể dục thể thao, NSND Trà Giang…

Trên sân khấu xuất hiện một người với dáng thân vạm vỡ, màu da đen ánh, tóc dài để búi, khoác cây đàn ghi-ta thật nghệ… Hình hài “cháy” như lửa Tây Nguyên, ấy vậy mà khi ông cất lời ca, cả hội trường lặng đi, hóa ra ông là Toàn Nguyễn, một cựu thủy thủ người Hải Phòng. Bắt đầu chương trình hội ngộ bằng một bài hát của tác giả Đồng Dương Chiều cũng của Hải Phòng: “Nhớ mãi Hải Phòng ơi!”, phải nói bài hát có ca từ đằm thắm mượt mà, khi Toàn Nguyễn hát, nhiều người ở dưới chìm trong cảm xúc: “Hải Phòng ơi, giờ đây mấy chục năm rồi, tôi vẫn nhớ những đường phố thân quen… nhớ những mùa hoa phượng…Những tâm hồn giản dị sáng trong, giữa cuộc đời chìm nổi bão giông…”. Toàn Nguyễn là chủ một tiệm cà phê có tiếng ở Sài thành, anh có chất giọng truyền cảm đến độ sâu lắng, mỗi một lần láy ca vai anh lại rung lên: “Mấy chục năm rồi hoa vẫn thắm trong tôi, mấy chục năm rồi em vẫn sống trong tôi…”. Cái tình cảm thật sự rưng rức trong lòng người xa quê là thế.

Tiếp là những bài hát nối nhau, dập dìu nỗi nhớ về cố hương, vẫn là ca từ quen thuộc “Những bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Đất, Lạc Viên, những cái tên nghe chẳng thơ đâu…” nhưng nghe Mạnh Khang, Toàn Nguyễn… với hồn quê xa lắng sao mà chứa chan. Thăm thẳm chiều dài hơn 2.000 km của đất nước hình như đang co lại, người Vĩnh Bảo, Đồ Sơn rồi Kiến Thụy… lần lượt lên sân khấu, ai cũng muốn nhân dịp này “xả” hết lòng. Ở phía dưới, ngồi gần trên hàng ghế đầu, Nghệ sỹ Trà Giang -“minh tinh màn bạc” một thời của điện ảnh Việt Nam lặng lẽ nghe với đôi mắt đượm buồn. Hình như bà đang nhớ lại thời thơ ấu ở Hải Phòng, nơi có thể nói là khởi nguồn sự nghiệp điện ảnh của bà, khi bà còn là học sinh Miền Nam tập kết. Phó chủ tịch Hội kiêm M.C Đỗ Ngọc Núi nói khẽ: “Chị Trà Giang là thế, cứ nhắc đến Hải Phòng là khóc, nên hôm nay không dám mời chị lên…”.

Mỗi người một hoàn cảnh, một tâm trạng, nhưng dường như tất cả đều chung niềm đau đáu nhớ về cội nguồn. Ông Trịnh Anh Tuấn - người con của miền quê Núi Voi (An Lão), giờ với cương vị Phó tổng giám đốc Tập đoàn hóa chất Việt Nam tâm sự: “Ra chiến trường từ năm 1972, thời loạn ly dành tinh thần cho chiến đấu, đến khi hòa bình ở lại miền Nam thì lo bươn chải kiếm sống, giờ không còn khó khăn về kinh tế thì lại bận bịu với công việc…”. Có lẽ vì thế nên suốt 39 năm xa quê, dường như không có khi nào hình ảnh những bờ tre, gốc lúa, mái nhà tranh không chập chờn trong ông, rưng rưng mỗi buổi đêm trầm mặc. Vẫn biết rằng triết lý cuộc đời là thế, không có cao thì sao biết thấp, không có cội thì sao có cây,  không có nguồn thì sao có nước…nên tình người khi xa mới hiểu hết nghĩa thế nào là đằm thắm. Hội đồng hương Hải Phòng như nhịp cầu nối, để mỗi người đứng trên ấy nghỉ ngơi trút gánh nỗi niềm, mà thư giãn cho tâm hồn vốn thường ngày trôi nổi phù du.

Suốt cả cuộc tưng bừng, tôi và các đồng nghiệp bên đài PTTH và báo Hải Phòng chạy như thoi đưa giữa những tiếng gọi, ghi lại những cái bắt tay, những cú lao vào nhau ôm vồ vập. Vừa bấm máy “bắn liên thanh” vào một đám đông, chợt nhận ra một ánh mắt quen thuộc, rồi rạng ngời đến ngỡ ngàng. “Chú Tường…”, tôi vui mừng buông máy ùa tới, tôi quen ông Cao Thiệu Tường  từ ngày ông còn là Phó giám đốc Cty da giầy Hải Phòng, ấy vậy mà đã mấy chục năm… “Ngoài ấy giờ thế nào?”, rồi “người này giờ đang làm gì?”, “người kia còn hay đã khuất?”. Khoảnh khắc bất ngờ cho câu chuyện của mấy mươi năm, những câu hỏi đưa ra dồn dập, hào hứng và bùi ngùi theo sóng hình “sin”.

Cuộc vui nào cũng đến lúc tàn, các ly rượu rót đầy rồi phải cạn, “Hội ngộ rồi chia ly, cuộc đời vẫn thế, dẫu là mặt trời nồng nàn khát khao, hay đêm mịt mù lấp lánh ngàn sao…” như lời nhạc phẩm “Điều giản dị” của nhạc sỹ Phú Quang. Nữa là đây, những con người bình thường, ai cũng vì một lẽ nào đó mới phải  tha hương, kết niềm hân hoan lại lao vào dòng đời đầy sóng gió. Trong tột cùng niềm vui vẫn có những điều ngậm ngùi,  bịn rịn kẻ ở lại trời Nam, người quay về đất Bắc, nén lòng cất lên giai điệu “nhịp cầu nối những bờ vui”…

Chào tạm biệt những đồng hương Hải Phòng, những bông hoa phượng du phong, mỗi hạ về lại rực rỡ sắc riêng, đỏ đến chói chang trên bến nhà Rồng lịch sử.

LÊ MINH THẮNG

Ảnh trên: Nghệ sỹ nhân dân Trà Giang chụp ảnh lưu niệm với tác giả Lê Minh Thắng - phóng viên báo An ninh Hải Phòng, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng.

Giao lưu bloggers "Nối vòng tay nhân ái"

anhhp 29 May, 2011 23:35 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (181) Bản inBản in

Giao lưu bloggers Nối vòng tay nhân ái

altTheo sự giáp mối của blogger Vô Thường, cả ngày hôm nay, chủ nhật 29-5-2011, Câu lạc bộ Bloggers Hải Phòng đã tổ chức gặp gỡ, giao lưu với hơn 30 bloggers và người thân đến từ Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương và Vĩnh Phúc, trong đó có blogger Vô Thường và mọt số bloggers khác là người khuyết tật.

Gần 10 giờ sáng, 2 chiếc xe ô-tô 7 chỗ và 25 chỗ đưa đoàn bloggers Hà Nội và các tỉnh về nội thành Hải Phòng. Các bloggers Hải Phòng là Hoài Khánh, Tuấn Anh, Vũ Văn Lương, Trần Hồng Ánh và Thy Nguyên ra tận cửa xe đón đoàn và cùng những bloggers và người thân khác giúp những người khuyết tật xuống xe, ngồi xe lăn, lên thang máy, vào hội trường tầng 3 khách sạn số 71 phố Lạch Tray, để dành ít phút tới chia sẻ, động viên với Nhóm bạn “Nghị lực sống” tại đó đang tham dự Hội nghị phổ biến mô hình "Sống độc lập" của người khuyết tật.

Ngay sau đó, thêm 1 xe ô-tô 5 chỗ nữa của các bloggers Hải Phòng là nhóm Mai77 hướng dẫn 2 chiếc xe của đoàn bloggers Hà Nội và các tỉnh chạy thẳng hướng đông nam qua đường Lạch Tray, cầu Rào, đường Phạm Văn Đồng, Nguyễn Hữu Cầu, tới Khách sạn Hoa Thành Đạt (15, phố Lý Thánh Tông, quận Đồ Sơn), nơi diễn ra cuộc găp gỡ giao lưu bloggers "Nối vòng tay nhân ái". Các bloggers Hải Phòng là Hoài Khánh, Tuấn Anh, Vũ Văn Lương, Trần Hồng Ánh, Bùi Thị Thu Hằng và Thy Nguyên, sau thêm Bùi Quý Thực nồng nhiệt tiếp đón đoàn bloggers Hà Nội và các tỉnh.alt

Cuộc giao lưu bloggers "Nối vòng tay nhân ái" này diễn ra bằng một bữa ăn trưa khá thịnh soạn, với gần 40 người ngồi bên nhau quây quần, không phân biệt bloggers lành lặn hay người khuyết tật.

Mở đầu cuộc giao lưu, các bloggers Hoài Khánh và Song Hương đã giới thiệu đôi nét về các bạn bloggers của mình cùng những hoạt động của Câu lạc bộ Bloggers Hải Phòng và Nhóm Bloggers "Những tấm lòng bè bạn", nhất là những hoạt động giao lưu - gặp gỡ và từ thiện - nhân đạo.

Tiếp đó, các bloggers Hải Phòng, Hà Nội và các tỉnh trên các mạng xã hội Vnweblogs và Yahoo.360plus đã nhận ra nhau sau những lần giao lưu trên mạng, ngoài đời, kể cho nhau nghe những vui buồn khi chơi blog và nói lên khát vọng được giao lưu, chia sẻ trên trang blog và được gặp mặt nhau giữa đời thực. Các bloggers Hải Phòng rất vui được đón bloger Vô Thường, chủ nhân blog Vothuong1455.vnweblogs.com. Tuy là người khuyết tật nhưng chị vẫn tham gia làm nghề may thời trang tại gia đình ở phố Hàng Đào (Hà Nội). Chị lập blog chưa lâu và tới nay mới có 4000 lượt truy cập, nhưng luôn thể hiện niềm tin yêu cuộc sống, thích thơ văn lãng mạn, yêu nhạc Trịnh Công Sơn. Chị muốn tâm sự, chia sẻ những nỗi buồn, nhưng lại sợ mọi người buồn lây. Trong chuyến về thăm Hải Phòng lần này, chị luôn được các bloggers và bạn bè đồng tật quan tâm chăm sóc chu đáo. Trong đoàn bloggers Hà Nội còn có các bloggers Thu Thương, Ước Nguyện, Hồ Lan, Cơm Việt, Thầy Lang, Hải Hà, Mùa Hè Rực Rỡ, Hoa Hồng Đen, Thu Nga,… Ngoài ra còn có các bloggers Hải Dương là Hữu Thịnh - đại diện trang Website lucbat.com tại Hải Dương - tác giả tập thơ “Thương mãi mai sau” xuất bản năm ngoái, Đặng Đình Dũng - tác giả tập truyện ngắn “Ghế đá ven hồ” mới được xuất bản. Cùng đi có người mẹ của Hữu Thịnh và người vợ của Đặng Đình Dũng là blogger Hoa Hồng Trắng - vận động viên khuyết tật môn bóng bàn.alt

Nhà thơ Trịnh Anh Đạt - chủ khách sạn Hoa Thành Đạt - rất vui khi được góp phần cùng bạn bè văn chương Hải Phòng trên mạng Vnweblogs đón tiếp các bloggers xa gần đã dành cho những người khuyết tật có mặt tại đây một cuộc giao lưu vui vẻ, ấn tượng và giàu ý nghĩa. Khách sạn cũng dành các phòng nghỉ để các đại biểu nghỉ trưa sau một hành trình đường dài và có những giờ phút thư giãn khi tới thăm khu du lịch Đồ Sơn đúng mùa hoa phượng đỏ.

Chị Vô Thường rất vui được gặp mặt trò chuyện với các bạn bloggers Hải Phòng. Chị gọi điện thoại báo tin vui tới các bloggers thân quen, như Hồ Tĩnh Tâm, Sonata, Hằng Thủy,…

Buổi chiều, các bloggers Hải Phòng hướng dẫn các bạn bè bloggers Hà Nội và các tỉnh đi tham quan khu du lịch Đồ Sơn và vui chơi, nghỉ mát, tắm biển ngay tại khu 2 Đồ Sơn. Blogger Meo Meo 75 cũng vừa từ nội thành Hải Phòng đi xe máy ra đứng chờ ở đó. Mọi người lại có dịp ngồi bên nhau trò chuyện. Thật xúc động khi khá nhiều người trong đoàn bloggers Hà Nội và các tỉnh, nhất là những người khuyết tật, coi đây là lần đầu tiên ra biển. Có người muốn tự bước bàn chân trần trên bãi cát hoặc tự tay mình khỏa vào mặt nước mặn chát của biển khơi.

Khi bóng chiều sẫm dần cho biển tím hơn, các bloggers chia tay nhau. Nhà thơ Trịnh Anh Đạt trao tặng những số báo Hải Phòng Cuối tuần số ra mới nhất, blogger Bùi Quý Thực tặng một số tập thơ của anh mang tên "Sóng phù du". Mọi người lưu luyến chia tay nhau và hẹn gặp lại trên những trang blog thân yêu và những cuộc gặp khác.

TRẦN HỒNG ÁNH

Ảnh dưới: Các bloggers Hải Phòng trên bãi biển Đồ Sơn chiều 29-5-2011 (từ ngồi hàng trước đến hàng đứng phía sau, từ trái sang phải: Vũ Văn Lương, Tuấn Anh, Trần Hồng Ánh, Bùi Quý Thực, Hoài Khánh, nhà thơ Trịnh Anh Đạt, Thy Nguyên, Bùi Thị Thu Hằng)

alt

Đọc Thơ lục bát của Trịnh Anh Đạt

anhhp 23 May, 2011 12:33 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (89) Bản inBản in

Đọc Thơ lục bát của Trịnh Anh Đạt

altCách đây khoảng 5 – 6 năm gì đó, trong một chuyến ngao du ra Đồ Sơn, người bạn văn đi cùng giới thiệu với tôi một cựu chiến binh đang làm làm doanh nghiệp ở thị xã du lịch này, tên là Trịnh Anh Đạt. Chuyện trò đã có vẻ ăn ý, Trịnh Anh Đạt lấy từ trong cặp ra một tập thơ kí tặng tôi. Khi ấy, tôi có cảm nhận Trịnh Anh Đạt đang tập trung công sức, nhiệt huyết cho công việc kinh doanh; việc làm thơ chỉ như để trang trí, làm duyên làm dáng cho cuộc đời thêm thi vị mà thôi. Nghĩ thế nên tôi không mấy chú ý đến chuyện thơ anh viết hay dở thế nào. Lần này, vô tình gặp lại Trịnh Anh Đạt ở Hà Nội, anh lại kí tặng tôi một tập thơ nữa. Tập này có tên là Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt ( Nhà xuất bản Văn Học - 2010). Cuộc sống bây giờ mang hơi thở hiện đại, hợp với thơ tự do, vậy mà vẫn có người “chơi đồ cổ” là cái anh lục bát này, quả là rất gợi trí tò mò. Mà thơ lục bát đâu phải dễ làm, lào phào một chút, sến một tẹo là thành ca dao hàng chợ liền!

 Nhưng khi đọc xong tập thơ lục bát của Trịnh Anh Đạt thì tôi nhận ra anh viết rất vững, tác giả là một thi sĩ đích thực. Làm thơ từ thời còn là lính vận tải trên tuyến đường Trường Sơn thời chiến tranh chống Mỹ. Vào cái đêm Trung thu năm 1972 khói lửa, Trịnh Anh Đạt đã viết những câu thơ lục bát đầu tay: Hành quân cấp tập qua đồi/ Trong tầm pháo kích trắng trời Thừa Thiên...Cùng nếm trải những thứ mà tất cả những người lính ở đây đều nếm trải: Rau tàu bay nấu khoai môn/ Ấm lòng chiến sĩ nhẹ cơn sốt rừng...

Chiến tranh kết thúc, người lính Trịnh Anh Đạt khoác ba lô trở về quê Hà Trung – Thanh Hóa thì gia đình anh cũng đã xô dạt ra miền ngoài, nơi có những dãy núi đá vôi Kiện Khê ven sông Đáy. Cái đêm đứng bên bến sông đợi đò mà ngổn ngang tâm trạng : Mỏi chân ra Bắc vào Nam/ Ngày về kịp chuyến đò ngang cuối cùng/ Vớt lên một cánh hoa rừng/ Hương nghèn nghẹn thoảng giữa rưng rưng chiều/ Một mai đò gác mái chèo/ Nhớ thương biết gửi bến nào sông ơi...(Người về bến cũ).

 Tuy có sự ly tán nhưng rồi vẫn đến cái ngày đoàn tụ gia đình cảm động và đầm ấm. Những người đồng đội cũ ở Trường Sơn thì sao? Người hy sinh thì đã đi một nhẽ. Sống sót trở về, người thì tàn phế suốt đời, người thì chịu nỗi đau âm thầm, chăn đơn gối chiếc như cô bạn thanh niên xung phong phá đá mở đường cho đoàn vận tải của tác giả đi qua năm nào: Trường Sơn khuyết một lần trăng/ Mãi còn cánh võng xanh giăng giăng chờ...(Màu thương nhớ). Chờ ở đây là chờ một người đàn ông của mình, như bao người thiếu nữ bình thường trên cõi đời. Nhưng liệu điều đó có đến với cô không khi mà xuân sắc đã gửi lại ở chiến trường? Người không ra trận như các bà mẹ thì cũng: Bao nhiêu bà mẹ chờ chồng/ Núi không đủ đá để trồng Vọng Phu...(Mẹ miền Trung).

Trong thân thể Trịnh Anh Đạt cũng mang những thương tích, nhưng anh hòa nhập với cuộc sống đời thường không khó khăn lắm. Sinh ra ở xứ Thanh, nhiều người cùng quê rất ngại nghe người ta nói câu cửa miệng “Dân Thanh Hóa ăn rau má, phá đường tàu”. Trịnh Anh Đạt không giấu diếm cái nghèo của cố hương: Dù ai lận đận nơi đâu/ Dù ai sống giữa nhà lầu xe hơi/ Vị riêng rau má em ơi/ Vẫn còn ngai ngái trong người xứ Thanh...

Song le, tác giả không chỉ “khoe” cái nghèo để trông đợi một chút rủ lòng thương nào đó; ở đây còn  có sự xác lập cho khuynh hướng vượt lên hoàn cảnh mà đi tới: Bao giờ em về quê anh/ Mà xem dấu vết kinh thành xa xưa/ Vĩ nhân và các đời vua/ Cũng từ rau má, ốc cua nên người...(Rau má).

Thấm thía cái lẽ đời như thế mới vạch ra được hướng đi, hăng hái và bình thản nhập cuộc. Bước đầu Trịnh Anh Đat lập cơ sở khai thác đá, một công việc nặng nhọc và nguy hiểm, chừng như rất đối nghịch với thể trạng của người cựu binh gầy còm, thương tật. Vậy mà Trịnh Anh Đat đã làm được, làm giầu, đủ tiền bứt lên thành chủ doanh nghiệp, ra Đồ Sơn xây khách sạn hẳn hoi. Mải mê với công việc, quay đi quay lại đã vào tuổi tri thiên mệnh tự khi nào. Một lần thảnh thơi nhìn ngắm kĩ dung nhan vợ, mới giật mình nhận thấy chị không còn xuân sắc nữa. Không những thế, chị còn đang may một bộ đồ màu nâu, chuẩn bị cho thời kì “chay tịnh” mà đi lễ chùa. Khi ấy tác giả mới vội vàng tạo ra cảm hứng để được “yêu lại”: Bữa nay xếp lại áo quần/ Chạm màu nâu cứ tần ngần mãi thôi/ Mộng mơ đã lỡ mất rồi/ Ta đành dan díu lại thời dậy xuân...(Đang chín mà em). Như cần phải làm cho vợ “thấm nhuần” hơn, tác giả còn lên giây cót tinh thần cho chị ở một bài thơ khác: Tình ta như mộc hóa trầm/ Càng dầy năm tháng càng đằm hương thơm...(Trầm).

Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Giầu đổi bạn, sang đổi vợ”. So với mức sống chung của người Việt thì Trịnh Anh Đạt bây giờ cũng có thể xem là giầu, và sang nữa, nhưng anh không rơi vào cái quy luật thông tục như câu ngạn ngữ kia. Càng làm ăn khá giả anh càng gắn bó với vợ con. Với bạn cũ anh cũng ăn ở đầy đặn. Ngôi trường trung học phổ thông Hà Trung anh học năm xưa, bây giờ, sau hơn bốn mươi năm nó vẫn là nơi cho những người bạn đồng niên đồng khóa đi về gặp gỡ. Trong một lần tựu trường, Trịnh Anh Đạt viết: Mái đầu trò bạc như thầy/ Cay nơi khóe mắt, xiết tay tủi mừng/ Màu hoa phượng sẫm nhớ nhung/ Góc sân tàn cánh lửa rừng rực rơi...Rồi anh tâm sự với bạn cũ mà như nhắc nhở chính mình: Nào ai lận đận miếng ăn/ Lang thang cơm áo phía dằm dặm xa/ Phượng hồng phong kín tuổi hoa/ Về trường cũ sẽ nhận ra chính mình...(Về mái trường xưa).

Ở một số bài, nhà thơ còn hướng tầm mắt của mình ra xa hơn để tỏ rõ phẩm cách công dân cũng như bút lực của mình, kể cả những vấn đề mang hơi nóng của thời hiện đại, không dễ dàng cho thơ lúc bát thể hiện. Chẳng hạn, nhà kia đang nghèo khổ, bỗng dưng cô con gái lấy được một ông chồng ngoại, khá giả đến đâu thì chưa biết, nhưng cái sự vênh vang học đòi thì đã nhanh chóng biến cô thành một con người khác: Tóc đen nhuộm tím nhuộm nâu/ Vênh vang lườm nguýt ra dâu nước ngoài/ Bữa nào xó bếp nướng khoai/ Mà giờ ngọt giọng “bai bai” điệu đàng...(Trước ngày lên tàu bay hoa).

Thơ lục bát của Trịnh Anh Đạt hầu như hoàn toàn lấy cảm hứng, chất liệu từ cuộc sống thật, cho nên rất hiếm có những hình tượng ám tả, những câu biền ngẫu sáo mòn. Có bài ý tưởng của nó như một truyện ngắn. Chẳng hạn trong ngày thơ Nguyên Tiêu năm 2010, Trịnh Anh Đạt đến Văn Miếu – Quốc Tử giám thì gặp một nhà thơ Mỹ gốc Việt. Nhà thơ này từng là người lính cầm súng ở phía bên kia, thời chiến tranh. Trịnh Anh Đạt là cựu binh Trường Sơn. Hai kẻ “tử thù” gặp nhau:

Anh từ Texas về đây/ Bạn thơ dang rộng vòng tay đón chào/ Bỏ qua thủ tục ngoại giao/ Toàn thằng lính trận thủa nào choảng nhau/ Người mẻ trán, kẻ sứt đầu/ Trở trời trái gió ngấm đau một mình...Nhưng bây giờ gặp nhau ở cái nơi văn minh nhất thủ đô này, thi ca đã làm cho họ xích lại gần nhau: Duyên thơ nối nhịp ân tình/ Rời tay súng, chẳng phải rình rập ai/ Vào nơi trọng dụng nhân tài/ Qua Khuê Văn Các sánh vai cùng người/ Thơ hay vụt thả đỏ trời/ Rưng rưng ánh mắt rạng ngời lửa thiêng... (Phút bình yên Văn Miếu)

Phải, dù có lúc do thời cuộc đưa đẩy, họ phải chĩa súng vào nhau. Còn giờ đây giữa cuộc sống thanh bình của thủ đô, trong bầu khí thiêng của văn hiến ngàn năm hội tụ nơi Văn Miếu, họ tự ý thức mình đều là con rồng cháu tiên, máu đỏ da vàng, không còn Lí do gì ngăn cản họ bắt tay nhau xóa bỏ hận thù, dành chút tâm sức còn lại góp vào công cuộc dựng xây và canh tân đất nước.

Có thể nói Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt là một tập thơ khá, viết dụng công. Anh giăng cuộc đời mình ra mà viết. Một nhà thơ như anh rất đáng được ghi nhận và trân trọng.

Hà Nội, lễ Vu Lan, 2010.

LÊ HOÀI NAM

Hải Phòng vui Ngày hội non sông

anhhp 22 May, 2011 00:00 Chung Đường dẫn cố định Trackbacks (0) góp ý (44) Bản inBản in

Hải Phòng vui Ngày hội non sông

altCuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp - nhiệm kỳ 2011 - 2016 được tiến hành từ 7 giờ sáng nay, Chủ nhật, ngày 22/5/2011.

Cuộc bầu cử diễn ra trong thời điểm thành phố Hải Phòng cùng cả nước đang triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố, đặt ra những yêu cầu mới cao hơn đối với tổ chức và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Sáng suốt lựa chọn những người có đủ đức, tài bầu vào Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thành phố Hải Phòng trong năm 2011. Cử tri Hải Phòng đề cao trách nhiệm, tích cực tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016, thành công của cuộc bầu cử góp phần xây dựng, củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Hải Phòng là một trong 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường; tại cuộc bầu cử lần này, thành phố Hải Phòng sẽ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử Hội đồng nhân dân thành phố khoá XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện Bạch Long Vỹ và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, thị trấn (nhiệm kỳ 2011 - 2016), đây là sự kiện chính trị trọng đại, ngày hội lớn của toàn dân, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân.

Đảng bộ, quân và dân thành phố Hải Phòng thi đua lập thành tích chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (nhiệm kỳ 2011 - 2016), cử tri Hải Phòng hăng hái tham gia thực hiện cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đảm bảo dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố. Tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

TRẦN HỒNG ÁNH